Chương 1 TỔNG QUAN VỀ THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ 1. Khái niệm quản lý nhà nước về văn hóa 1. Quản lý Quản lý là hoạt động tất yếu khách quan của mọi quá trình hoạt động xã hội.Trong hoạt động quản lý, phải có chủ thể quản lý, và ít nhất một đối tượng quản lý, gián tiệp hay trực tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý.Hoạt động quản lý là một quá trình bao gồm nhiều hành động khác nhau, có tính liên tục để đạt được kết quả mà chủ thể đặt ra mục tiêu cần hướng tới. Để tồn tại và phát triển, quản lý cần thiết đối với mọi phạm vi hoạt động của xã hội.
Có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu về hoạt động quản lý, chúng ta có thể hiểu khái niệm về hoạt động quản lý như sau: "Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động" [21, tr15]. Muốn "tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích", người làm quản lý phải thực hiện hoạt động quản lý gồm 4 khâu quan trọng là: Lập kế hoạch, tổ chức, bố trí nhân lực cho phù hợp với thực tiễn; kiểm tra, kiểm soát, đánh giá việc thực hiện kế hoạch. Hoạt động quản lý được thể hiện trong 5 thành tốt sau: Chủ thể quản lý, khách thể quản lý, mục đích quản lý, công cụ quản lý, cách thức quản lý. Quản lý văn hóa Là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy Tieu luan phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hoá, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung.
Trong luận văn này, tôi xác định khái niệm như sau: Quản lý văn hóa là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý đối với khách thể nhằm đạt được mục tiêu mong muốn. Quản lý văn hóa bao gồm những nội dung chính sau: + Xác lập hệ quan điểm chủ đạo (hệ tư tưởng chính trị, kinh tế, xã hội, đạo đức…), những nguyên tắc cơ bản xây dựng và phát triển văn hóa - là cơ sở của việc xác lập nội dung và phương thức quản lý văn hóa… (trong các văn kiện chính thức của Đảng, Hiến pháp, trong chiến lược phát triển văn hóa của Chính phủ). + Bộ máy tổ chức, cán bộ thực hiện chức năng quản lý văn hóa từ Trung ương đến địa phương và theo các lĩnh vực. + Cơ chế phối hợp liên ngành (Ban, Bộ, ngành, đoàn thể, cơ cấu dân sự…) + Hệ thống pháp luật (Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư, Chỉ thị, Văn bản hướng dẫn, Quy chế, Quy tắc, Quy định…) + Hệ thống chính sách trên từng lĩnh vực (lối sống, nếp sống, văn học - nghệ thuật, di sản văn hóa, văn hóa dân tộc…) và theo địa bàn lãnh thổ (Trung ương - địa phương, đô thị - nông thôn, đồng bằng - miền núi, trong nước - ngoài nước…).
Cần lưu ý đến tầm quan trọng của các chính sách đầu tư các nguồn lực (đặc biệt là đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực) và phương tiện cho văn hóa. + Công tác giám sát, kiểm tra, khen thưởng và xử lý vi phạm. Quản lý nhà nước về văn hóa Căn cứ vào các thành tố cơ bản cấu thành hoạt động quản lý, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa quản lý Nhà nước đối với xã hội: Quản lý Nhà nước đối với xã hội là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống luật pháp và bộ Tieu luan máy của mình nhằm điều chỉnh các hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội, hành vi của công dân, với mục đích duy trì và phát triển xã hội, bảo toàn và củng cố quyền lực Nhà nước.55] Thành tố quan trọng nhất trong quản lý đó là Chủ thể quản lý, thành tố này quyết định mục đích quản lý, cách thức quản lý và lựa chọn công cụ quản lý. Bởi vậy, quản lý Nhà nước có những đặc điểm sau: - Quản lý Nhà nước mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức rất cao.
- Quản lý Nhà nước có mục tiêu chiến lược, chương trình và kế hoạch thực hiện mục tiêu. - Quản lý Nhà nước có tính chủ động sáng tạo và linh hoạt trong việc điều hành, phối hợp, huy động mọi lực lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng, nân cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân. - Quản lý Nhà nước phải đảm bảo tính liên tục, tính tổ chức, tính thống nhất. Muốn vậy bộ máy nhà nước phải ổn định, thống nhất từ Trung ương đến địa phương; hệ thống pháp luật phải đồng bộ và ngày càng hoàn thiện phù hợp với yêu cầu thực tế khách quan.
Văn hóa đối với sự phát triển của xã hội đặc biệt là trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay đặt ra vấn đề cần phải quản lý sự phát triển văn hóa theo định hướng của Đảng và Nhà nước đã đề ra. Nhà nước quản lý sự nghiệp văn hóa cho phù hợp yêu cầu tình hình mới.Quản lý văn hóa là một công vệc khó khăn, phức tạp và vô cùng nhạy bén. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII chỉ rõ: "Củng cố, hoàn thiện các thể chế văn hóa, đảm bảo tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý có hiệu quả của Nhà nước, vai trò làm chủ của nhân dân và lực lượng những người hoạt động văn hóa, tạo nhiều sản phẩm Tieu luan và sinh hoạt văn hóa phong phú, đa dạng theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Quản lý Nhà nước về văn hóa đảm bảo cho văn hóa, văn học nghệ thuật, báo chí phát triển theo đúng hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa đảm bảo quyền tự do dân chủ cá nhân trong sáng tạo, hưởng thụ văn hóa.
Quản lý Nhà nước về văn hóa là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy của mình, nhằm phát triển văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hóa và liên quan, với mục đích giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Nội dung, nguyên tắc, phương pháp quản lý nhà nước về văn hóa và đặc điểm quản lý văn hóa cấp huyện, thành, thị 1. Nội dung quản lý nhà nước về văn hóa Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: "Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát triển văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và lành mạnh của Nhân dân; phát triển các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của Nhân dân, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tạo môi trường xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam có sức khỏe, văn hóa, giàu lòng yêu nước, có tinh thần đoàn kết, ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân" [23, tr. Tieu luan Căn cứ vào các đạo luật và các văn bản pháp quy đã ban hành, có 12 lĩnh vực hoạt động văn hóa cần được quản lý như sau: - Các hoạt động thuộc lĩnh vực báo chí, xuất bản, internet, quảng cáo; - Các hoạt động thuộc lĩnh vực điện ảnh; - Các hoạt động thuộc lĩnh vực nghệ thuật, biểu diễn; - Các hoạt động thuộc lĩnh vực mỹ thuật; - Các hoạt động thuộc lĩnh vực thư viện, bảo tồn, bảo tàng; - Các hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa thông tin cơ sở; - Các hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa các dân tộc thiểu số; - Các hoạt động thuộc lĩnh vực quyền tác giả, nhuận bút; - Các hoạt động thuộc lĩnh vực xuất nhập khẩu văn hóa phẩm; - Các hoạt động thuộc lĩnh vực tổ chức bộ máy quản lý văn hóa; - Các hoạt động thuộc lĩnh vực đào tạo; - Các hoạt động thuộc lĩnh vực thanh tra [22, tr.
Các văn bản pháp luật tạo ra một hành lang pháp lý cho các hoạt động văn hóa, đặc biệt có ý nghĩa khi chúng ta đang tiến hành chủ trương xã hội hóa các hoạt động văn hóa trong nền kinh tế thị trường.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về văn hóa Nguyên tắc quản lý nhà nước về văn hoá thông tin là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hoá - thông tin theo một thể thống nhất. Nguyên tắc quản lý nhà nước về văn hoá - thông tin ở nước ta là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; tập trung dân chủ, phân định rõ chức năng và nguyên tắc công khai. Ngoài quản lý bằng pháp luật, cần quản lý bằng “thể chế mềm”, đặc biệt trong xây dựng đời sống văn hóa cần quản lý bằng quy ước. Đây là biện pháp tăng cường quản lý các hoạt động văn hóa thông qua vai trò của mỗi cá nhân, trong cộng đồng tự quản.
Tieu luan - Nhà nước quản lý văn hóa bằng các chính sách về phát triển văn hóa: Chính sách văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện nền kinh tế thị trương. Chính sách văn hóa điều chỉnh những bất bình đẳng trong văn hóa do thị trường tạo ra, khích lệ, hỗ trợ những xu hướng văn hóa có nhiều triển vọng vì chúng tiêu biểu cho sức mạnh dân tộc, cho sự định hướng nhu cầu văn hóa của xã hội. Chính sách văn hóa là thể chế hóa các quan điểm, phương hướng phát triển văn hóa, tác động lên các nhóm cộng đồng văn hóa, cộng đồng chính trị và cộng đồng dân cư để giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình văn hóa. - Nhà nước quản lý văn hóa bằng đầu tư tài chính: Đầu tư tài chính cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững.