Chương 1: NHỮNG VAN DE CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUAN LÝ LE HỘI, TONG QUAN VE LE HỘI TRUYEN THONG TREN DIA BAN HUYỆN GIA BINH, TINH BAC NINH 1. Những van đề chung về công tác quan lý lễ hội 1. Một số khái niệm Di sản Văn hóa Theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 thì “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của Nhân dân ta” [29]. Năm 1972, tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp Quốc UNESCO đã đưa ra công ước về việc bảo vệ đi sản văn hóa và tự nhiên của thế giới đã định nghĩa về di sản văn hóa “Các di tích: các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội họa hoành trang, các yếu tô hay kết cấu có tinh chất khảo cổ, các văn bản, các hang động và các nhóm yếu tô có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học; Các quần thể: các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc, sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hóa của chúng vào cảnh quan; Các thăng cảnh: các công trình của con người hoặc những công trình của con người kết hợp với các công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, kế cả các di chỉ khảo cô học, có giá tri quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thâm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chung học”{64].
Di sản văn hóa là di sản của các hiện vật vật thể và các thuộc tính phi vật thé của một nhóm hay xã hội được các thế hệ trước duy trì đến ngày nay và dành cho các thế hệ mai sau. Di sản văn hóa bao gồm tài sản văn hóa (như các tòa nhà, cảnh quan, di tích, sách, tác phẩm nghệ thuật và các hiện vật), văn hóa phi vật thé như (văn hóa dân gian, truyền thống, ngôn ngữ và kiến thức) và di sản tự nhiên bao gôm (cảnh quan có tính văn hóa quan trọng và 15 đa dạng sinh học). Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thé và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có gia tri lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thé hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [30]. Qua các khái niệm về di sản văn hóa có thé thay vai trò quan trọng của nó đôi với mỗi con người, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc.
Di sản văn hóa là tai sản của dân tộc, nói lên truyền thống lịch sử, thể hiện công đức của thế hệ cha ông trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, di sản như một “dấu hiệu” dé nhận điện nét đặc trưng, tô đậm bản sắc riêng của dân tộc. Do vậy, di sản văn hóa cần được giữ gìn và phát huy trong sự nghiệp xây dựng, phát triển nên văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm da ban sắc dân tộc, góp phan làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hóa thế giới. Lễ hội Tính đến thời điểm hiện nay, vẫn chưa có sự thống nhất trong các khái niệm về lễ hội. Theo Đại từ điển Tiếng Việt (1999), lễ hội là “cuộc vui tổ chức chung, có các hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa truyền thống của dân tộc”.
Lễ hội gồm 2 phần: Phần lễ và phần hội. Phần lễ mang tính thiêng liêng, tương đối 6n định, là những nghỉ thức thờ thần thánh, thông thường thực hiện phần lễ chỉ có một số nguoi CÓ vai vé, vi tri nhat dinh trong lang, xã biểu thị sự tôn kính. Phần hội mang tính cộng đồng, bao gồm các trò diễn, các cuộc đua tài, các trò chơi, văn nghệ giải trí tổ chức cho đông đảo người đến dự, phần hội có thê thay đổi quy mô, thêm bớt tùy theo cấu trúc lễ hội. Tuy nhiên sự phân chia giữa lễ và hội chỉ là tương đối bởi trong thực tế nhiều khi trong lễ bao hàm cả tính chất hội.
Theo cé GS. Trần Quốc Vượng “Lễ hội gồm hai phần vừa tách rời vừa không tách rời nhau: Lễ hội (nghi lễ cúng Thần, Thánh, Phật, Mẫu.) và phần hội (tụ hội của dan một làng hay liên làng (vùng)”. “Trên thực tế và về ly thuyết lễ - hội xoắn xuýt hữu cơ vào nhau, không thể tách rời [70,tr. 16 Tác giả Ngô Đức Thịnh cho rằng “Lễ hội là một hiện tượng tổng thể, không phải là thực thé chia đôi (phan lễ và phan hội) một cách tách biệt như một số học giả đã quan niệm mà nó được hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ tín ngưỡng nao đó (thường là tôn thờ một vị thần linh lịch sử hay một vị thần linh nghề nghiệp nào đó), rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng văn hóa, phát sinh để tạo nên một tổng thể lễ hội, nên trong lễ hội phần lễ là phần gốc rễ, chủ đạo, phan hội là phần phát sinh tích hợp” [53, tr.
Theo tác giả Vũ Minh Giang “Lễ hội là một loại hình hoạt động có nguồn gốc sâu xa trong văn hóa truyền thống của các cộng đồng người sinh sống trên đất nước ta và phô biến ở mọi quốc gia, dân tộc” [17, tr. Tác giả Nguyễn Chí Bên định nghĩa “Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, ra đời và phát triển trong xã hội loài người. Ở Việt Nam, lễ hội gắn bó với làng xã như một thành tô không thể thiếu vắng trong đời sống cộng đồng” [7, tr. Trong cuốn Folklore một số thuật ngữ đương đại đã đưa ra định nghĩa về lễ hội: “Lễ hội là một hoạt động kỷ niệm định kỳ biểu thị thế giới quan của một nền văn hóa hay nhóm xã hội thông qua hành lễ, diễn xướng, nghi lễ và trò chơi truyền thống.
Là một hoạt động hết sức phổ biến, lễ hội có thé là sự kiện có tính tượng trưng và tính xã hội phức tạp nhất, tồn tại lâu đời trong truyền thong” [51]. Như vậy, tựu trung lại có thé hiểu lễ hội là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng gồm phan lễ và phan hội và thường có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo. Lễ hội truyền thống Theo định nghĩa của UNESCO, Văn hóa truyền thống (Traditional culture): Là các tập quán và biểu tượng xã hội mà theo quan niệm của một nhóm xã hội thì được lưu giữ từ quá khứ đến hiện tại thông qua việc lưu truyền giữa các thế hệ và có một tầm quan trọng đặc biệt (ngay cả trong trường hợp các tập quán và biểu tượng được hình thành trong khoảng thời 17 gian không lâu) [65] lễ hội thuộc phạm trù văn hóa, do vậy khái niệm lễ hội truyền thống có thé bao trùm cả những lễ hội cổ truyền đã có từ xa xưa và cả những truyền thống lễ hội được xác lập may chục năm trở lại đây như lễ hội các ngày kỷ niệm, ngày quốc khánh, lễ hội Làng Sen. Tuy nhiên, ở nước ta khi sử dụng cụm từ lễ hội truyền thống thông thường được hiểu như lễ hội cổ truyền [18, tr.
Tác giả Ngô Đức Thịnh “Lễ hội truyền thống còn được hiểu là một thành tố quan trọng cấu thành nên hình thái văn hóa lịch sử, tương ứng với những mô hình xã hội tô chức khác nhau, hay hiểu một cách đơn giản nhất lễ hội truyền thống là lễ hội của các xã hội truyền thống [50, tr. Trong cuốn Lễ hội dân gian của Lê Trung Vũ, Lê Hồng Ly và Nguyễn Thị Phương Châm cho rằng “Dùng thuật ngữ lễ hội truyền thống của Nhân dân ta trong quá khứ, khi mà rất nhiều trò chơi trong các lễ hội ấy đều nhuốm màu thiêng liêng một cách có chủ ý của những người tô chức. Lễ hội bao hàm cả lễ và hội, là hai phần gắn bó chặt chẽ với nhau, đan quyện với nhau, bổ sung cho nhau. Có thê tách bạch ra để nghiên cứu, xem xét nhưng luôn phải ghi nhận nó là một chỉnh thé”[67, tr.
Theo Nghị định 110 của Chính phủ “Lễ hội truyền thống (bao gồm cả lễ hội tại các di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội dân gian) là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng được tổ chức theo nghỉ lễ truyền thống, nhằm đáp ứng nhu cau tinh thần của Nhân dân” [37]. Như vậy có thé thấy răng lễ hội truyền thống là bộ phận những giá tri tốt đẹp, tích cực, được hình thành từ lâu đời, xuất phát từ những phong tục tập quán, tín ngưỡng và đáp ứng nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng, nhu cầu vui chơi giải trí của Nhân dân va thé chế chính trị đương thời. Dù sử dụng định nghĩa nảo thì lễ hội truyền thống cần đảm bảo đủ các yếu tố: Là một hình thức sinh hoạt văn hóa, có tính chất thiêng liêng, tính cỗ kết cộng đồng, khuôn mẫu và được diễn ra theo chu kỳ. Đặc trưng cơ bản của lễ hội truyền thống là gắn với đời sống tâm linh tôn giáo tín ngưỡng, 18 sự kiện và nhân vật lịch sử, mang tính thiêng, ngôn ngữ của lễ hội là ngôn ngữ biéu tượng.
Quản lý Có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý, tựu chung lại thì Quản lý là một hoạt động tất yếu khi có nhiều người cùng làm việc với nhau dé đạt được mục tiêu chung, là sự tác động của t6 chức, có định hướng của chủ thể lên khách thé nhằm đạt được mục tiêu định trước. Các Mác quan niệm: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” [34, tr. Ông chỉ ra rằng tất cả mọi hoạt động trực tiếp hay mọi động cơ chung nào tiễn hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều đều cần đến sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với những khí quan độc lập của nó [34, tr. Tác giả Phạm Ngọc Thanh cho răng “Quản lý là hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, trong đó các chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng những công cụ và phương pháp khác nhau, nhằm đạt được những mục tiêu của tô chức một cách hiệu quả nhất, trong điều kiện biến động của môi trường” [46, tr.