CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE QUYEN TU DO ĐI LAI VÀ CU TRU Mỗi người chúng ta, du ở bất cứ nước nào, bất cứ vùng lãnh thé nào, đều thực hiện sự dịch chuyền, đi lại. Chúng ta đi lại và cư trú để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, học tập, vui chơi giải trí, làm việc. nhưng không may ai nhận thức được đó là một quyền cơ bản của con người cần được ghi nhận. Chúng ta có thé nhận thức rất rõ ràng một số quyền của con người như quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận, quyền sống, quyền được học tập.nhưng lại không dành nhiều quan tâm cho quyền tự do đi lại và cư trú.
Bởi quyền này là quyền rất cơ bản, có từ khi con người sinh ra, và không gặp nhiều cản trở trên thực tế. Chỉ đến khi bị giới hạn quyền tự do đi lại và cư trú, nhiều người mới nhận thức được rằng đó là một quyền đương nhiên của họ và đó là một quyên rất quan trọng. Nếu không tồn tại quyền tự do đi lại và cư trú, những quyền khác của con người cũng có thé bị xâm phạm. Hơn nữa, chính trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi mà lưu thông thương mai, hàng hóa đòi hỏi con người phải di chuyển nhiều, không chi từ khu vực này đến khu vực khác trong phạm vi lãnh thô nước mình, mà còn từ nước này sang nước khác, quyền tự do đi lại và cư trú lại càng thể hiện vai trò tích cực của mình.
Chính vì vậy, có được một nghiên cứu toàn diện về quyền tự do đi lại và cư trú là điều cần thiết. Vậy quyên tự do đi lại và cư trú là gì, được ghi nhận trong những cơ sở pháp lý quốc tế và quốc gia nào, và những giải pháp nào Việt Nam cần thực hiện dé đảm bảo quyền tự do đi lại và cư trú trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới? 1. Khái niệm quyền tự do đi lại và cư trú 1. Quyển con người trong lĩnh vực dân sự, chính trị Quyên con người là một van đề khá phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực như đạo đức, chính trị, pháp lý.
Chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quyền con người, mỗi định nghĩa tiếp cận quyền con người theo những góc độ khác nhau. Một định nghĩa rất phổ biến thường được trích dẫn bởi các học giả theo học thuyết quyền tự nhiên: Quyển con người là những quyển cơ bản, không thể tước bỏ mà một người vốn được thừa hưởng đơn giản vì họ là con người”. Ở cấp độ quốc tế, định nghĩa của Văn phòng cao ủy LHQ thường xuyên được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu: guyén con người là những bảo đảm pháp lý toàn cẩu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm ton hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con ngườÏ. Ở Việt Nam, đã có nhiều tác phâm phân tích về quyền con người.
Trong tác phẩm Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, các tác giả định nghĩa quyền con người là những nhu cau, lợi ich tự nhiên, vốn có của con người được ghỉ nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lÿ quốc tế” Quyền con người thực sự nỗi lên như một vấn đề ở tầm quốc tế từ những năm đầu của thế kỷ XIX, cùng với cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ diễn ra rất mạnh mẽ, liên tục tới tận cuối thé kỷ đó và phong trào dau tranh đòi cải thiện điều kiện sống cho người lao động và bảo vệ nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ trang trên thé giới. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, việc LHQ ra đời ngày 10/12/1948 và thông qua bản Tuyên ngôn nhân quyền thé giới là một bước tiễn vượt bậc trong lĩnh vưc quyền con người. Tuyên ngôn này là nền tảng cho hai công ước quốc tế về quyền con người cùng được thông qua vào năm 1966. Một trong số đó là Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị.
Các quyền dân sự và chính trị được gọi là “thế hệ quyền con người thứ nhất” trong tương quan với “ thế hệ quyền con người thứ hai” (các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa). Cách gọi này xuất phát từ những đặc điểm khác nhau của hai nhóm quyên. Từ đó, các quyền dân sự và chính trị có một số đặc tính sau:'° Một là, các quyền dân sự và chính tri chủ yếu chỉ cần thái độ thụ động của nhà nước. Điều này có nghĩa là nhà nước, trong hầu hết các trường hợp không cần chủ động thực hiện các biện pháp hỗ trợ và chỉ đơn thuần kiềm chế không can thiệp vào việc hưởng thụ các quyên dân sự, chính tri của người dan.org/wiki/Human_rights.
8 OHCHR, Frequently Asked Questions on a Human Rights-based Approach to Development Cooperation, New York and Geneva, 2006, tr. 9 Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Dai hoc Quốc gia Ha Nội, tr. (1989), The Interdependence and Permeability of Human Rights Norms: Towards a Partial Fusion of the International Covenants on Human Rights, Osgood Law Journal, Vol.27 Hai là, đề đảm bảo các quyền dân sự và chính trị, không đòi hỏi tiêu tốn nhiều nguồn lực.
Ba là, do không đòi hỏi tiêu tốn nhiều nhân lực, vật lực nên các quốc gia có thể và cần phải thực hiện ngay. Bốn là, các quyền dân sự và chính tri có nội hàm rõ ràng, thé hiện ở việc dé dàng định lượng, đánh giá được mức độ bảo đảm các quyền. Nam là, tính rõ ràng trong nội hàm của các quyền này giúp việc phân xử các cáo buộc vi phạm quyền rõ ràng hơn so với các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội. Sáu là, các quyền dân sự và chính trị không phản ánh sự chia rẽ về ý thức hệ chính trị bởi giữa các quốc gia trên thé giới không tổn tại nhiều mâu thuẫn về quan điểm đối với các quyền này.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, những nhận định trên hiện nay chỉ mang tính tương đối. Theo cá nhân tác giả, những đặc điểm trên hiện nay vẫn thé hiện là những đặc điểm cơ bản của các quyền dân sự và chính trị trừ đặc điểm dau tiên. Bởi ngày nay, bên cạnh nghĩa vụ chủ yếu là kiềm chế, không can thiệp vào việc hưởng thụ các quyền dân sự và chính trị của con người, trong nhiều trường hợp nhà nước còn phải thực hiện nghĩa vụ chủ động để đảm bảo hiện thực hóa các quyền này. Nghĩa vụ chủ động đó thông thường là ban hành các quy định pháp luật, thành lập các cơ chế giám sát, thực hiện giáo dục, tuyên truyền.
Quyển tw do đi lại và cư trú Quyền tự do đi lại và cư trú từ rất lâu đời đã được xếp vào nhóm quyền dân sự và chính trị. Các công ước quốc tế về nhân quyền cũng như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị không đưa ra định nghĩa rõ ràng về quyền này, mà chỉ chỉ ra nội hàm của quyén. Về cơ bản, quyền tu do di lại và cư tru là m6t trong các quyền dan sự cua cá nhân, được ghi nhận va bao dam bởi pháp luật quốc tế và pháp luật các quốc gia, bao gồm quyền tự do di lại và lựa chọn nơi cư trú trong phạm vi lãnh thé quốc gia, quyên rời khỏi lãnh thổ một quốc gia và quyền trở về quốc gia mà cá nhân đó có quốc tịch. Theo đó, có thé thấy quyền tự do đi lại và cư trú được định nghĩa là bao gồm các quyền sau: - Quyền tự đo đi lại trong phạm vi lãnh thổ quốc gia - Quyên tự do lựa chọn nơi cư trú trong phạm vi lãnh thổ quốc gia - Quyền đi khỏi bat kỳ nước nào ké cả nước mình - Quyền trở về nước mình.
Với tư cách là một trong các quyên tự do cơ bản của con người, quyền tự do đi lại và cư trú đảm bảo các đặc điểm của quyên con người nói chung, đó là: - Tính pho bién: Quyén tự do di lại va cu trú được áp dung cho tat cả moi người, không phân biệt màu da, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tudi, thành phan xuất thân. - Tính đặc thù: Mặc dù như đã khang định ở trên, tất cả mọi người đều được hưởng quyền tự do đi lại và cư trú, nhưng do ở mỗi khu vực có hoàn cảnh chính trị, truyền thống riêng, trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng khác nhau nên quyên này được thực thi ở mức độ khác nhau. - Tính không thể bị tước bỏ: quyền tự đo đi lại và cư trú cần phải được đảm bảo tối đa, không thé tùy tiện bị tước bỏ hay hạn chế bởi một chủ thé nào, dù đó là các cơ quan nhà nước. Tất nhiên, điều này không loại trừ những trường hợp nhất định do pháp luật quy định: ví dụ như tù nhân bị giam thì bị hạn chế quyền tự do đi lại.
- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền: thực hiện tốt quyền tự do đi lại và cư trú là cơ sở dé thực hiện tốt các quyền khác. Điều này được thê hiện rõ hơn trong phần sau của luận văn. Bên cạnh những đặc điểm của quyền con người nói chung, quyền tự do đi lại và cư trú còn mang những đặc điểm của các quyên dân sự và chính trị: - Thứ nhất, quyền tự do đi lại và cư trú là quyền tự do rất cơ bản của con người, không đòi hỏi nhà nước tiêu tốn nhiều nhân lực, vật lực để đảm bảo quyền này. - Thứ hai, quyền này được các quốc gia thực hiện ngay, không cần có thời gian chuyền tiếp và chuẩn bị.
- Thứ ba, chúng ta có thể đánh giá được mức độ thực hiện quyền tự do di lại và cư trú một cách rõ ràng thông qua các số liệu thống kê về số lượng người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam, số lượng người nước ngoài cư trú ở Việt Nam của các cơ quan có thấm quyền, số liệu điều tra dân số, hộ tịch. - Những vi phạm về quyền tự do đi lại và cư trú là những vi phạm dé nhận biết, có tính chính xác nên dễ phân xử. - Cuối cùng, phần 3 của luận văn sẽ cho thấy hầu hết các nước đều nhất trí về những quy định cơ bản đối với quyền tự đo đi lại và cư trú.