Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quá trình đổi mới và phát triển kinh tế thị trường cùng hoạt động hội nhập thương mại quốc tế đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa qua biên giới, nhưng đồng thời làm phát sinh nhiều hiện tượng tiêu cực, trong đó có tội phạm buôn lậu. Buôn lậu gây thất thu ngân sách nhà nước, đe dọa phá vỡ chính sách quản lý kinh tế, xâm phạm trật tự quản lý ngoại thương và an ninh biên giới quốc gia, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của thương nhân và người tiêu dùng.

Tỉnh Lạng Sơn là địa bàn miền núi thuộc vùng Đông Bắc có vị trí địa lý đặc thù, là đầu mối giao thương trọng điểm với hệ thống giao thông huyết mạch gồm các tuyến Quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B, 279 và tuyến đường sắt liên vận quốc tế kết nối các tỉnh nội địa với Trung Quốc. Toàn tỉnh có 02 cửa khẩu quốc tế, 01 cửa khẩu quốc gia và 07 cặp chợ biên giới; 05 huyện tiếp giáp trực tiếp đường biên giới với Trung Quốc (gồm Đình Lập, Cao Lộc, Lộc Bình, Văn Lãng, Tràng Định). Hoạt động thương mại chiếm tỷ trọng 59,88% trong cơ cấu kinh tế và đóng góp trên 30% tổng thu ngân sách địa phương. Tuy nhiên, hoạt động buôn lậu tại Lạng Sơn diễn biến phức tạp với nhiều thủ đoạn: mang vác nhỏ lẻ qua đường mòn, lối mở; lợi dụng chính sách thông quan điện tử để gian lận; chuyển dịch sang hình thức lợi dụng tư cách pháp nhân thương mại, hợp đồng ngoại thương và thủ tục tạm nhập tái xuất.

  • Mục đích nghiên cứu: Đưa ra các biện pháp bảo đảm hiệu quả áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 về tội buôn lậu trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Lạng Sơn.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Phân tích một số vấn đề chung về tội buôn lậu, đánh giá quy định của BLHS năm 2015 về tội buôn lậu.
    2. Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS năm 2015 trong việc định tội danh và quyết định hình phạt về tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
    3. Đề xuất một số biện pháp nhằm bảo đảm hiệu quả áp dụng quy định của BLHS năm 2015 về tội buôn lậu.
  • Đối tượng nghiên cứu: Tội buôn lậu trong BLHS năm 2015 từ thực tiễn áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng tại tỉnh Lạng Sơn.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khía cạnh lý luận về tội buôn lậu; thực tiễn định tội danh và áp dụng hình phạt tại Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và pháp lý dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật và tài liệu khoa học:

  • Hệ thống văn bản pháp luật:
    • Trọng tâm là Điều 188 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cùng các điều khoản liên quan (Điều 2, 8, 50, 51, 52, 65, 79, 189, 190);
    • Các văn bản lập pháp qua các thời kỳ: Sắc lệnh số 45/1945, Sắc lệnh số 160/1946, Nghị định số 631-TTg năm 1955, Pháp lệnh ngày 30/6/1982, Điều 97 BLHS năm 1985, Điều 153 BLHS năm 1999;
    • Các luật chuyên ngành: Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 74, 75, 83), Luật Hải quan năm 2014 (Điều 4), Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016 (Điều 4), Luật Di sản văn hóa năm 2013, Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005, Thông tư số 07/2012/TT-NHNN và Thông tư số 17/2014/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
  • Tài liệu lý luận và luật so sánh: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội và Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; công trình của GS.TS. Nguyễn Ngọc Hoà, GS.TS. Võ Khánh Vinh, TS. Phạm Mạnh Hùng, PGS.TS. Dương Tuyết Miên; nghiên cứu so sánh quy định định tội của Tổ chức Hải quan Thế giới (Công ước Nairobi 1997), Điều 246 BLHS Cộng hòa Uzbekistan, Điều 229.1 BLHS Liên bang Nga và thông lệ trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại tại 119 quốc gia.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu tiến trình hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về tội buôn lậu từ năm 1945 đến nay.
    • Phương pháp phân tích, so sánh, quy nạp: Làm sáng tỏ cấu thành tội phạm, đối chiếu pháp luật Việt Nam với quy định quốc tế và đánh giá các hạn chế, bất cập.
    • Phương pháp thống kê, tổng hợp: Thu thập, phân loại và phân tích số liệu thực tế về định tội danh và áp dụng hình phạt.
  • Nguồn dữ liệu: Số liệu thống kê thụ lý, giải quyết án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn, Báo cáo công tác chống buôn lậu của Ban Chỉ đạo 389 tỉnh Lạng Sơn và Báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2018–2022; cùng các bản án hình sự sơ thẩm cụ thể.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về tội buôn lậu

Chương này tập trung làm rõ bản chất kinh tế - xã hội, khái niệm pháp lý, các đặc điểm đặc trưng của tội buôn lậu và lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam qua 4 giai đoạn:

  • Khái niệm và đặc điểm: Tác giả đưa ra định nghĩa tổng hợp: "Tội buôn lậu là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, do cá nhân hoặc pháp nhân thương mại thực hiện hành vi buôn bán trái phép qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật nhằm mục đích kiếm lời". Tội phạm có 04 đặc điểm chính: (1) Tính nguy hiểm cho xã hội; (2) Trái pháp luật hình sự; (3) Lỗi cố ý trực tiếp với mục đích kiếm lời; (4) Phải bị xử lý hình sự theo quy định của BLHS.
  • Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam:
    • Giai đoạn 1945 đến trước BLHS 1985: Bắt đầu từ Sắc lệnh số 45 (ngày 09/10/1945 cấm xuất cảng thóc gạo), Sắc lệnh số 160 (ngày 21/3/1946 cấm xuất cảng kim khí, máy móc, phụ tùng), Nghị định số 631-TTg (ngày 13/12/1955 quản lý vàng bạc), và Pháp lệnh trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu ngày 30/6/1982 (Điều 3, Điều 4 quy định cụ thể tội danh và khung hình phạt).
    • Giai đoạn BLHS 1985 đến trước BLHS 1999: Điều 97 BLHS năm 1985 ghép chung hành vi tại tội danh "Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới", xếp vào nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia (từ năm 1989), với mức phạt tù từ 01 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
    • Giai đoạn BLHS 1999 đến trước BLHS 2015: BLHS năm 1999 tách riêng tội buôn lậu (Điều 153) và tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 154), chuyển về Chương XVI "Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế", xác định khách thể bảo vệ là trật tự quản lý ngoại thương.
    • Giai đoạn BLHS 2015 có hiệu lực thi hành: Điều 188 BLHS năm 2015 có 4 điểm mới lớn: (1) Bỏ hàng cấm ra khỏi đối tượng của tội buôn lậu (chuyển xử lý theo Điều 190); (2) Mở rộng phạm vi và nâng mức phạt tiền là hình phạt chính và hình phạt bổ sung; (3) Bổ sung chủ thể chịu trách nhiệm hình sự là pháp nhân thương mại; (4) Bãi bỏ hình phạt tử hình, mức hình phạt tù cao nhất là 20 năm.

Chương 2: Tội buôn lậu theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015

Chương này phân tích các dấu hiệu pháp lý định tội, định khung và hệ thống chế tài áp dụng:

  • Dấu hiệu định tội:
    • Khách thể: Trật tự quản lý ngoại thương của Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Đối tượng tác động gồm: hàng hóa thông thường, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
    • Mặt khách quan: Hành vi buôn bán trái phép qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại. Giá trị vật phạm pháp từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án chưa được xóa án tích về một trong các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế theo luật định; hoặc vật phạm pháp là di vật, cổ vật. Địa điểm bắt buộc là qua biên giới (bao gồm biên giới thực tế và biên giới hải quan) hoặc khu phi thuế quan. Tác giả đối chiếu luật Uzbekistan và Nga để khẳng định tội phạm hoàn thành từ thời điểm thực hiện hành vi dịch chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới/khu phi thuế quan.
    • Chủ thể: Cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự từ đủ 16 tuổi trở lên; Pháp nhân thương mại (đáp ứng điều kiện theo Điều 74, 75 Bộ luật Dân sự năm 2015).
    • Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp, động cơ vụ lợi, mục đích buôn bán kiếm lời (dấu hiệu phân biệt với Điều 189 BLHS 2015).
  • Dấu hiệu định khung tăng nặng: Gồm Khung 2 (phạt tiền từ 300 triệu đến 1,5 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 03 đến 07 năm); Khung 3 (phạt tiền từ 1,5 tỷ đến 5 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 07 đến 15 năm); Khung 4 (phạt tù từ 12 đến 20 năm) gắn với các tình tiết: có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, vật phạm pháp trị giá lớn/rất lớn/đặc biệt lớn, thu lợi bất chính lớn, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn...
  • Hình phạt áp dụng:
    • Đối với cá nhân: 04 khung hình phạt chính (mức phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng, mức phạt tù từ 06 tháng đến 20 năm); hình phạt bổ sung gồm phạt tiền từ 30.000.000 đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề từ 01 đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
    • Đối với pháp nhân thương mại (Khoản 6 Điều 188): 04 khung hình phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 15.000.000.000 đồng; đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn (Điều 79); hình phạt bổ sung gồm phạt tiền từ 50.000.000 đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm huy động vốn từ 01 đến 03 năm.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự 2015 về tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội buôn lậu

Chương này trình bày số liệu thực tế xét xử sơ thẩm tại Lạng Sơn giai đoạn 2018–2022, đánh giá ưu điểm, hạn chế và đề xuất giải pháp:

  • Thực tiễn xét xử sơ thẩm:
Năm Tổng số vụ án kinh tế Số vụ án buôn lậu Tỷ lệ (%) Tổng số bị cáo án kinh tế Số bị cáo tội buôn lậu Tỷ lệ (%)
2018 145 24 16,5% 228 38 16,6%
2019 210 45 21,4% 324 75 23,1%
2020 173 36 20,8% 284 59 20,7%
2021 86 18 20,9% 173 34 19,6%
2022 106 20 18,8% 248 54 21,7%
Tổng cộng 720 143 19,8% 1257 260 20,6%

Nguồn: Tổng hợp từ TAND, VKSND và Cơ quan điều tra tỉnh Lạng Sơn.

  • Thống kê cơ cấu hình phạt áp dụng (143 vụ / 260 bị cáo):
    • Cải tạo không giam giữ: 05 bị cáo;
    • Phạt tù từ 03 năm trở xuống: chiếm tỷ lệ lớn nhất (trong đó có 26 bị cáo được hưởng án treo);
    • Phạt tù từ trên 03 năm đến 07 năm: 71 bị cáo;
    • Phạt tù từ trên 07 năm đến 15 năm: 31 bị cáo;
    • Phạt tù từ trên 15 năm đến 20 năm: 02 bị cáo;
    • Phạt tiền (hình phạt chính): 41 bị cáo;
    • Cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề 01–05 năm: 02 bị cáo;
    • Phạt tiền bổ sung: 19 bị cáo.
  • Phân tích các bản án điển hình:
    • Bản án số 47/2019/HS-ST ngày 30/11/2019 của TAND huyện Tràng Định: Bị cáo Nguyễn Như Quỳnh và Lục Văn Tẩn buôn lậu 01 xe ô tô Mazda 3 trị giá 454.992.000 đồng qua mốc 990; áp dụng điểm c khoản 2 Điều 188 tuyên phạt Quỳnh 04 năm tù, Tẩn 03 năm 06 tháng tù.
    • Bản án số 29/2020/HS-ST ngày 24/4/2020 của TAND huyện Lộc Bình: Bị cáo Hoàng Thị Liên buôn lậu 20 tấn phân bón trị giá 160.000.000 đồng qua mốc 1256; áp dụng khoản 1 Điều 188 tuyên phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 36 tháng.
    • Bản án số 60/2021/HS-ST ngày 16/8/2021 của TAND huyện Cao Lộc: Bị cáo Đinh Văn Huy buôn lậu 299 điện thoại Samsung A71 và 20 điện thoại iPhone 12 Pro Max trị giá 277.160.000 đồng; áp dụng khoản 1 Điều 188 phạt tiền 100.000.000 đồng.
  • Hạn chế, vướng mắc: Chậm trễ trong việc phân định giữa xử phạt hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự tại giai đoạn đầu xử lý vụ việc; số vụ buôn lậu do hải quan, bộ đội biên phòng phát hiện nhiều nhưng chuyển khởi tố hình sự ít, tiềm ẩn nguy cơ bỏ lọt tội phạm qua xử phạt hành chính; một số cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá sai cấu thành dẫn đến định sai tội danh; mức phạt tiền quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 188 còn bất cập (ví dụ: tang vật trị giá 277.160.000 đồng nhưng mức phạt tiền chỉ 100.000.000 đồng, thấp hơn trị giá hàng lậu gần 3 lần, chưa bảo đảm tính răn đe).

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả thực nghiệm/thống kê: Công trình tổng hợp toàn diện dữ liệu xét xử sơ thẩm tội buôn lậu tại tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2018–2022 với 143 vụ án và 260 bị cáo. Năm 2019 ghi nhận số vụ xét xử cao nhất (45 vụ / 75 bị cáo), năm 2021 thấp nhất (18 vụ / 34 bị cáo) do tác động của kiểm soát biên giới phòng chống dịch Covid-19. Hình phạt áp dụng chủ yếu là phạt tù từ 03 năm trở xuống (26 trường hợp cho hưởng án treo) và phạt tiền chính (41 bị cáo).
  • Kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả:
    • Hoàn thiện quy định pháp luật hình sự: Sửa đổi mức phạt tiền tại khoản 1 và khoản 2 Điều 188 BLHS năm 2015 theo hướng tăng mức phạt tương xứng với giá trị hàng phạm pháp và lợi nhuận bất chính; hướng dẫn thống nhất tiêu chí xác định thời điểm tội phạm hoàn thành đối với hàng xuất khẩu và hàng nhập khẩu.
    • Giải pháp thực thi: Tăng cường phối hợp giữa cơ quan điều tra, hải quan, bộ đội biên phòng và VKSND trong việc phân loại, xử lý tin báo tố giác tội phạm; kiểm soát chặt chẽ quy trình xử lý vi phạm hành chính để chống bỏ lọt tội phạm buôn lậu; nâng cao trình độ nghiệp vụ của đội ngũ tiến hành tố tụng tại địa phương.
  • Đóng góp của đề tài: Là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đầu tiên về việc áp dụng các quy định của BLHS năm 2015 đối với tội buôn lậu tại địa bàn biên giới tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2018–2022, cung cấp bức tranh thực tiễn kèm dữ liệu xét xử cụ thể để phục vụ công tác lập pháp và áp dụng pháp luật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tiễn chỉ giới hạn ở các vụ án hình sự xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân các cấp thuộc tỉnh Lạng Sơn trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến năm 2022; chưa phân tích sâu các vụ án ở cấp phúc thẩm và chưa có nhiều dữ liệu thực tế về việc xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội buôn lậu do các vụ việc xử lý trên thực tế tại địa phương trong giai đoạn này còn hạn chế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thực tiễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội buôn lậu trên phạm vi cả nước; đánh giá phương thức buôn lậu sử dụng công nghệ cao và gian lận qua thương mại điện tử xuyên biên giới.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự: Nắm vững cấu thành tội phạm Điều 188 BLHS năm 2015, kỹ năng định tội danh và phương pháp phân tích bản án hình sự thực tế.
  • Cán bộ tiến hành tố tụng và lực lượng thực thi pháp luật (Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, Hải quan, Bộ đội Biên phòng): Tham khảo số liệu thực tế, các vướng mắc trong phân định chế tài hành chính - hình sự và thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội buôn lậu tại địa bàn biên giới.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng số liệu thống kê xét xử 5 năm (Bảng 3.1, Bảng 3.2) và phần phân tích các bản án sơ thẩm cụ thể tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận định nghĩa tội buôn lậu theo BLHS năm 2015 như thế nào?
Tác giả định nghĩa: Tội buôn lậu là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, do cá nhân hoặc pháp nhân thương mại thực hiện hành vi buôn bán trái phép qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật nhằm mục đích kiếm lời.

2. Điểm mới cơ bản của BLHS năm 2015 so với BLHS năm 1999 về tội buôn lậu là gì?
BLHS năm 2015 đã: (1) Bỏ đối tượng "hàng cấm" ra khỏi Điều 188 để xử lý riêng tại Điều 190; (2) Bổ sung địa bàn "khu phi thuế quan"; (3) Mở rộng phạm vi và tăng mức phạt tiền; (4) Quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại; (5) Bãi bỏ hình phạt tử hình, mức phạt tù tối đa là 20 năm.

3. Trong giai đoạn 2018–2022, Tòa án nhân dân các cấp tại Lạng Sơn đã xét xử bao nhiêu vụ án và bị cáo phạm tội buôn lậu?
Theo số liệu thống kê trong khóa luận, TAND các cấp tại Lạng Sơn đã xét xử sơ thẩm 143 vụ án với 260 bị cáo phạm tội buôn lậu (chiếm 19,8% tổng số vụ án và 20,6% tổng số bị cáo thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế).

4. Khóa luận chỉ ra bất cập gì về mức phạt tiền tại Điều 188 BLHS năm 2015 qua thực tiễn xét xử tại Lạng Sơn?
Mức phạt tiền quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 188 chưa tương xứng với giá trị hàng phạm pháp. Ví dụ tại Bản án số 60/2021/HS-ST của TAND huyện Cao Lộc, bị cáo buôn lậu lô điện thoại trị giá 277.160.000 đồng nhưng chỉ bị áp dụng mức phạt tiền 100.000.000 đồng, thấp hơn giá trị tang vật gần 3 lần và chưa đủ sức răn đe.

5. Khung chế tài cao nhất áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội buôn lậu theo BLHS năm 2015 là gì?
Theo khoản 6 Điều 188 và Điều 79 BLHS năm 2015, pháp nhân thương mại phạm tội buôn lậu có thể bị phạt tiền đến 15.000.000.000 đồng, đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm hoặc bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Triệu Việt Anh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, lịch sử lập pháp và các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội buôn lậu theo quy định tại Điều 188 BLHS năm 2015. Thông qua số liệu thống kê 143 vụ án sơ thẩm với 260 bị cáo tại tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2018–2022, tác giả đã phản ánh trung thực thực trạng xét xử, làm rõ những bất cập trong việc định tội và quyết định hình phạt. Các giải pháp và kiến nghị được đề xuất xuất phát trực tiếp từ thực tiễn cơ sở, đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu lực đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu tại địa bàn biên giới.