CHƯƠNG I NHŨNG VẤN ĐỀ LY LUAN VỀ CHẾ TÀI HÀNH CHÍNH Chế tài hành chính là phương tiện có kha nang và vai trò tổ chức to lớn trong việc bảo dam thi hành các quy phạm pháp luật. Với chức ning bảo vệ pháp luật, với sức mạnh vốn có của mình, chế tài hành chính là phương tiện quan trọng thực hiện sự quản lý hành chính đối với hành vi của con người trong xã hội, chuyển các yêu cầu, mệnh lệnh pháp luật thành hành vi thực tế của cá nhân. De nhận rõ được vai trò. kha năng to lớn đó của chế tài hành chính, cần lam rõ những khía cạnh bản chất, nội dung.
của hiện tượng này. Ban chất và vị trí của chế tài hành chính trong pháp luật hành chính 1. Bản chất của chế tài hành chính. Cho đến nay.
trong khoa học lưật hành chính cũng như khoa học pháp lý nói chung, chưa có kiến giải thống nhất về bản chát của chế tài phap luật. Nếu chỉ hiểu chung về chế tài thông qua các cụm từ như: "biện pháp tác động của nhà nước đối với chủ thể vi phạm phần quy định của quy nhạm” [82; tr.49], "hau quả pháp lý của việc không thực hiện những điều quy định ở phần quy định (79; tr.53] hoặc "biện pháp tác động nghiêm khắc của nhà nước đối với người vị phạm”. thì các nhà nghiên cứu có thể dé dàng đồng ý. Nhưng giải dip vấn dé ban chất của chế tài là gì? Ở day có những quan niệm khác nhau.
Có quan niệm cho rằng chế tài là sự chỉ ra hậu mu bất lợi đối với người khong tuân thủ các nghĩa vụ pháp luat [27; tr. Loại quan niệm thứ hai cho rằng chế tài là sự chỉ ra các biện pháp cưỡng chế nhà nước trong trường hợp vi phạm pháp luật [79; tr. | Trước hết, chiing ta hãy xem xét loại quan niệm thứ nhất. Theo quan niệm này thi chỉ các biện pháp tác động pháp luật nào của nhà nước mang lại cho người vi pham các hau quả bat lợi dưới dang han chế quyển hay bổ sung thêm nghĩa vụ mới, mới là chế tài (Đôi khi nó được diễn đạt dưới dang là sự tước bỏ các lợi ích tài sẵn và nhân than của người ví phạm).
Quan niệm chế tài - hậu qua bất lợi đã chỉ ra được đặc tính "gây hau quả bất lợi” của bộ phan lớn các biện phap tác động nhà nước được thừa nhận chung là chế tài. Tuy nhiên, nó có những khiếm khuyết về lý luận và thực tế. Thứ nhát, thuật ngữ “hau quả bat lợi” không thể hiện được cách thức bảo vệ quy phạm riêng có của pháp luật. Các quy phạm xã hội khác (quy phạm của các tổ chức xã hội, đạo đức.) cũng được bảo vệ bằng cách gay ra "hậu qua bat loi” đối với ngưỡi vi phạm.
Thứ hai, thuật ngữ đó quá rong và không cụ thể. Nó có thể bao gồm vào đó cả các hiện tượng pháp lý khác không phải là chế tài. Ví dụ: tam giữ người theo thủ tục hành chính không phải là chế tài cũng gay ra cho người bị tạm giữ "hậu quả bất lợi” nhất định. Thứ ba, đúng như I.
FARUKSHIN đã vạch ra, nếu quan niệm chế tài là "hậu qua bat lợi” thì trên thực tế, các biện pháp khiển trách, cảnh cáo vẫn được quan niệm chung là chế tài sẽ bị loại ra khỏi phạm vi chế tài pháp luật. Bởi vì, các biện pháp này chỉ thuần tuý là sự lên án có tính quyền lực của nhà nước đối với người vi phạm | 105: tr. Trong cuốn “Binh luận Bọ luật hình sự”, tập H, Vũ Thiện Kim cho rằng cảnh cáo cũng mang đến "hậu quả bất lợi” cho người phạm tội thể hiện ở án tích [34; tr. Về quan điểm này, theo chúng tôi, với nội dung tác động có tính giáo dục - dao dức, cảnh cáo không chứa dựng “hau quả bất lợi” với nghĩa là hạn chế quyền hay bổ sung nghĩa vụ mới đối với người vi phạm; án tích là vấn đề khác.
Nếu án tích được xem là một căn cứ để xác định tái phạm, thì việc người tái phạm trước đó đã bị cảnh cáo chỉ là dấu hiệu pháp lý bên ngoài của nhân tố có tính quyết định là những cái thuộc về nhân than, động cơ, ý chí, hành vi chống pháp luật của người ti phạm. Nói khác di, án tích là he qua chứ không phai là bản than cách thức tác động. Tóm lại, quan niệm chế tài là "hậu quả bất lợi” có nhiều điểm chưa ổn: không thể hiện được dấu hiệu nhà nước - pháp luật của chế tài pháp luật, chưa phan biệt rõ được chế tài với các hiện tượng pháp lý khác và không hầm chứa được trong nó mot vài hình thức chế tài. Nghiên cứu quan niệm “chế tài là sự chỉ ra các biện pháp cưỡng chế nhà nước” cho thấy khuynh hướng này không đặt trọng tam vào việc biện phap tác dong nhà nước gay hau qua như thế nào đối với người vi phạm pháp luật.
Sự tiếp cận thực chat của chế tài hướng vào việc làm rõ bằng phương tiện gì nhà nước bảo dam cho. quy phạm pháp luật không bị vi phạm. Chúng tôi cho rang day là quan niệm có cơ sở. Trong cách tiếp can, quan niệm "chế tài - cưỡng chế” đã phan ánh sat và dat quan hệ giữa một bên là vi phạm và bên kia là phan ứng tương ứng của nhà nước.
Xét về mặt lý luận, quan niệm chế tài như vậy được dựa trên luận điểm không có tranh luận rằng: ".phấp luạt không là cái gi nếu thiếu bộ máy có kha năng cưỡng chế đối với sự tuân thủ các quy phạm pháp luật” [37: tr. Luan điểm này được thể hiện ở mọi quan diém về bao vệ pháp luật trong các sách báo pháp lý. Như ta thấy, cưỡng chế có tính chat nhà nước, được thực hiện bởi bo máy nhà nước để hảo vệ quy phạm là đặc trưng riêng của pháp luật, phan biệt rõ rang cưỡng chế bảo vệ quy phạm pháp luật với cưỡng chế bảo vệ các quy phạm xã hội khác, đồng thời khắc phục được sự thiếu bao quát đối với một vài chế tài nhấp luật của quan niệm “chế tài - hau quả hat lợi”. Nhưng, cưỡng chế nhà nước là gì? Có nhiều vấn đề cần làm rõ.
Trước hết. cưỡng chế nhà nước là khái niệm không đồng nhất với khái niệm quyền lực nhà nước. Trong sách báo luật hành chính đã có quan điểm đồng nhất hai khái niệm dé. VEREMEENKO, nhà nghiên cứu luật hành chính Xô Viết đã quan niệm cưỡng chế trong pháp luật theo nghĩa rộng thể hiện ở chỗ nhà nước quyết định có tính quyền lực về vấn đề nào đó độc lập với ý chí của các cá nhân riêng biệt.
Còn cưỡng chế theo nghĩa hep là các biện pháp cưỡng chế cụ thể được Ap đụng trong trường hợp vi phạm pháp luật [96]. That ra, các quyết định của nhà nước không tính đến ý chí của cá nhan không thể là cơ sở để đồng nhất quyền lực nhà nước với cưỡng chế nhà nước. Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mac-Lenin đã chỉ ra đúng dan rằng, quyền lực xã hội, mà quyền lực nhà nước là một dang đặc biệt, là chức nãng xã hội vốn có (rong mọi xã hội. Ban chất của nó là ở chỗ ý chí của một bên buộc bên kia phải tuân theo, mặt khác, nó bao ham cả ý nghĩa phục tùng [3J.
Nhưng quyền lực nhà nước không phải luôn cần đến sự cưỡng chế. Nó có thể được thực hiện tự nguyện trong chừng mực mà ý chí quyền lực của nhà nước thể hiện trong các quy phạm pháp lui trùng hợp với ý chí của các chủ thể chấp hành của chúng. Trường hợp này cô thể nói về vai trò của thuyết phục giáo dục trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. Ngược lại, khi quy phạm pháp luật thể hiện quyền lực nhà nước không được tuân thủ thì cưỡng chế nhà nước là biện phấp thực hiện quyền lực nhà nước.
rằng quyền lực nhà nước luôn được thực hiện tự nguyện trong thực tế thì cưỡng chế nhà nước sẽ không cần để làm gi. | Dưới chủ nghĩa xã hội, do bản chất đân chủ của né, quyền lực nhà nước được thực hiện thong qua cả hai phương nhấp thuyết phục và cưỡng chế, chúng tác dong lẫn nhau trong việc thực hiện quyền lực đó. Nhưng, như V. Lá-nin đã nói: "Trước hết phải thuyết phục và sau đó mới cưỡng bức, đù thế nào đi nữa thi trước hết chúng ta cũng phải thuyết phục, rồi sau mới cưỡng bức" [38].
Sự đồng nhất. lẫn lộn giữa cưỡng chế nha nước và quyền lực nhà nước, theo chúng tôi xuất phát từ chỗ chưa xác định được rõ tương quan giữa các khái niệm "quyền lực nhà nước”, "cưỡng chế nhà nước” và "thuyết phục”. Vay, nội dung của khái niệm “cưỡng chế nhà nước” là gì? Có thể tấn thành quan điểm hẹp về cưỡng chế nhà nước của nhà nghiên cứu vừa dẫn, xem nó là các biện pháp cưỡng chế cụ thể, nhưng phải làm rõ nội dung của cưỡng chế. ALEKSEEV đã quan niệm cưỡng chế nhà nước là phương tiện tác động xã hội nghiêm khắc, được dựa trên sức mạnh có 16 chức, tạo kha năng bao dam sự xác định vô điều kiện ý chí của nhà nước {85: tr.
Thực chất của ý kiến này là nói về việc sử dụng bạo lực có tổ chức (cưỡng chế) của nhà nước để thực hiện quyền lực của minh, chống lại tinh trạng không bình thường của sự vận hành pháp luat: sự vi phạm pháp luật. Theo chúng tôi, quan niệm như vậy về cưỡng chế nhà nước đã phần ánh chính xác nội dung của khái niệm này. có điểm cần làm rõ thêm. Cưỡng chế nhà nước là khái niệm liên quan chặt với bạo lực nhà nước, nhưng không phải bao giờ việc sử dụng bạo lực cũng thể hiện là cưỡng chế nhà nước.
Day là vấn đề nhận thức có ý nghĩa to lớn đối với các nhà nước hiện dai, đặc biệt là nhà phấp quyền. Trong các nhà nước này, cưỡng chế nhà nước được phap luật quy định chất chế. Khí bạo lực nhà nước được sử dụng tuỷ tiện, ngoài quy định phap mat thì nó không còn là cưỡng chế nhà nước hiểu theo nghĩa hep pháp nữa, Cưỡng chế nhà nước với tư cách chế tài - một bộ phận của quy phạm pháp luật - chỉ là kha nang hay sự de doa ấp dụng nó (thể tính). Còn khi vi phạm đã xây ra thì chế tài được Ap dụng thực tế (thể động).