CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Định vị Đông Nam Á Đông Nam Á là một phân miền của châu Á, bao gồm các quốc gia có vị trí địa lý tính từ khu vực phía nam Trung Quốc, phía đông Ấn Độ, phía tây New Guinea cho đến phía bắc Australia. Khu vực này nằm trên vùng giao nhau của nhiều mảng kiến tạo địa chất với hoạt động thường xuyên của các cơn địa chấn và núi lửa. Đông Nam Á được biết đến với 11 quốc gia: Brunei, Myanmar, Campuchia, Đông Timor, Indonesia, Lào, Malaysia, Philippines, Singapore và Việt Nam. Xét về khu vực địa lý chia làm hai vùng: Đông Nam Á đất liền – Indochina, gồm Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam, khu vực Tây Malaysia (Peninsular Malaysia) và vùng Đông Nam Á hải đảo – quần đảo Mã Lai, gồm Brunei, khu vực Đông Malaysia, Đông Timor, Indonesia, Philippines, Singapore và vùng lãnh thổ đảo Christmas (thuộc Australia).
Xét về mặt địa lý, quần đảo Mã Lai là khu vực có núi lửa hoạt động thường xuyên nhất trên thế giới. Sự nâng cao địa lý của khu vực cũng góp phần tạo nên những ngọn núi hùng vĩ, cao nhất là ngọn Puncak Jaya ở Papua, Indonesia với độ cao 5.030m, trên hòn đảo New Guinea, đây là nơi duy nhất ở Đông Nam Á có thể nhìn thấy được băng tuyết. Đỉnh núi cao thứ hai chính là đỉnh Kinabalu ở Sabah, Malaysia , trên đảo Borneo với độ cao 4. Dãy núi cao nhất ở Đông Nam Á là Hkakabo Razi với độ cao 5.967m, ở cùng độ cao đó là dãy Everest phía nam Myanmar.
Quần đảo lớn nhất thế giới tính về kích thước là đảo quốc Indonesia. Khí hậu các nước Đông Nam Á chủ yếu là nhiệt đới nóng và ẩm ướt quanh năm với lượng mưa phong phú (miền nam Việt Nam là khu vực trọng yếu duy nhất ở Đông Nam Á có khí hậu cận nhiệt đới). Đông Nam Á chia làm hai mùa: mùa mưa và mùa khô do tác động của gió mùa. Vành đai mưa nhiệt đới tạo nên lượng mưa phong phú hơn vào mùa gió mùa.
Đông Nam Á có rừng mưa nhiệt đới lớn thứ hai trên trái đất (sau Amazon). Tuy 11 nhiên, riêng vùng núi ở khu vực phía nam là một ngoại lệ, với độ cao so với mực nước biển tương đối cao, vùng này có nhiệt độ thấp hơn và cảnh quan khá khô khan hơn. Với điều kiện tự nhiên như vậy, Đông Nam Á là khu vực có thảm thực vật và động vật vô cùng phong phú. Đặc biệt là các loài động vật quý hiếm như đười ươi orangutan, cọp Sumatra, rồng komodo….
Hệ sinh thái biển cũng đa dạng và phong phú vào loại bật nhất góp phần vào sự phát triển chung của hệ sinh thái biển thế giới. Trong vùng biển của các quốc gia Đông Nam Á có thể tìm thấy loài cá nhám voi – một trong những loài cá lớn nhất thế giới và 6 chủng loại khác nhau của họ nhà rùa biển. Tuy nhiên, với hệ động – thực vật đa dạng như vậy, các quốc gia Đông Nam Á cũng phải đối mặt với thực trạng phá rừng nghiêm trọng gây ảnh hưởng đến môi trường sống của các loài động – thực vật quý hiếm. Tổng diện tích khu vực Đông Nam Á vào khoảng 4 triệu km2.
Theo số liệu thống kê tính đến năm 2004, có hơn 593 triệu người dân sinh sống ở khu vực này, hơn 1/5 số đó (khoảng 125 triệu) là cư dân Indonesia sống trên đảo Java, hòn đảo tập trung dân cư đông đúc nhất thế giới. Indonesia là quốc gia có dân số đông nhất với 230 triệu người, gần như đứng hàng thứ 4 trên thế giới. Tôn giáo – tín ngưỡng và thành phần tộc người cũng đa sắc màu và khác nhau ở từng nước trong khu vực Đông Nam Á. Có khoảng 30 triệu người Hoa sinh sống ở Đông Nam Á, tập trung ở khu vực đảo Christmas, Malaysia, Philippines, Singapore, Indonesia, Thái Lan và Việt Nam.
Ngôn ngữ chính thức được sử dụng tại các quốc gia Đông Nam Á thuộc nhiều ngữ hệ khác nhau tùy theo thành phần tộc người và sự tác động của các yếu tố văn hóa, lịch sử có liên quan. Về tôn giáo, Islam là tôn giáo phổ biến nhất ở Đông Nam Á, với số tín đồ lên đến khoảng 240 triệu người (chiếm 40% dân số toàn khu vực), tập trung ở Brunei, Indonesia và Malaysia. Ngoài ra, các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á cũng có nhiều tôn giáo khác nhau. Phật giáo chiếm ưu thế ở Thái Lan, Campuchia, Myanmar, Việt Nam và Singapore.
Tục thờ cúng tổ tiên và Khổng giáo cũng khá phổ biến ở Việt Nam và Singapore. Thiên chúa giáo nổi trội ở Philippines, đông Indonesia, đông Malaysia và Đông Timor. Philippines là quốc gia có số lượng tín đồ Thiên chúa giáo lớn nhất châu Á. Đông Timor 12 nổi tiếng với giáo hội Thiên chúa giáo La Mã do ảnh hưởng của thời kỳ thống trị thực dân Bồ Đào Nha.
Văn hoá Đông Nam Á phong phú. Khu vực Đông Nam Á đất liền có nền văn hoá là sự pha trộn của văn hoá Ấn Độ và văn hoá Trung Hoa. Văn hoá các nước Indonesia, Philippines, Malaysia và Singapore là sự hỗn dung của văn hoá Ả Rập, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Trung Hoa, Ấn Độ và văn hoá của tộc người Mã Lai bản địa. Brunei cũng là quốc gia thể hiện sâu đậm dấu ấn của văn hoá Ả Rập.
Đông Nam Á đặc trưng với truyền thống nông nghiệp lúa nước có từ ngàn năm nay, phù hợp với điều kiện khí hậu gió mùa của khu vực. Đông Nam Á là một khu vực đặc biệt của châu Á, cả về vị trí địa lý lẫn điều kiện tự nhiên. Với sự tồn tại của 11 quốc gia trong khu vực, Đông Nam Á phong phú trên nhiều phương diện từ thảm thực – động vật, cho đến địa hình, các cộng đồng người và đặc biệt là những nền văn hoá đa sắc màu. Mỗi quốc gia Đông Nam Á là một mảnh ghép sặc sỡ cho bức tranh toàn diện Đông Nam Á.2 Định nghĩa người Hoa Một trong số những con đường hình thành cộng đồng người là sự xuất hiện của một bộ phận lớn dân di cư từ nhiều quốc gia và các tộc người khác nhau đến một nước nào đó sau khi nước đó được thành lập; số dân di cư này trong thời gian lâu dài đã sống dung hoà với cộng đồng bản địa, tạo nên hiện tượng hợp nhất tộc người, hình thành tộc người mới.
Trong xã hội hiện đại, quá trình phân li tộc người diễn ra nhanh chóng, nhiều người phải rời xa quê hương, dân tộc mình để đến vùng đất mới mưu sinh, số người di cư này dần dần đánh mất sợi dây liên kết với tộc người của mình, đồng thời hình thành nên một sợi dây liên kết mới với các tộc người bản địa nơi họ di cư đến và học được cách thích nghi với môi trường sống mới; dần dần từ đời này sang đời khác đã hình thành nên những phong tục tập quán mới, thậm chí còn nắm bắt được ngôn ngữ bản địa. Người Hoa ở Đông Nam Á chính là tiếp thu con đường này để định hình và phát triển một tộc người mới trên các vùng đất mới. 13 Lịch sử hình thành người Hoa ở Đông Nam Á trải qua quá trình phát triển lâu dài. Nếu tính từ thời cổ đại, quá trình này có lẽ đã kéo dài hơn 1000 năm, tuy nhiên giai đoạn then chốt nhất chỉ vào khoảng từ sau giữa thế kỷ 19 trở đi, đặc biệt là giai đoạn trước và sau chiến tranh thế giới lần II cho đến những năm 80.
Mốc thời gian khi nghiên cứu về sự hình thành người Hoa ở Đông Nam Á có thể được tính từ thời điểm những năm đầu sau chiến tranh thế giới thứ II; thời điểm cuối do sự khác biệt về chính sách dân tộc của các quốc gia mà có sự khác nhau nhất định. Sự hình thành người Hoa ở Đông Nam Á do một hệ thống các yếu tố lịch sử cấu thành. Trong đó, cơ sở quyết định dân số người Hoa là do sự chuyển đổi từ mô hình xã hội di dân sang đời sống định cư. Theo các tài liệu ghi chép lại, vào khoảng thời gian trước giai đoạn giữa thế kỷ 19, số lượng người dân Trung Quốc di cư đến các nước Đông Nam Á chỉ ở quy mô nhỏ lẻ.
Từ sau giữa thế kỷ 19 đến cuối thế kỷ 19, do các nước thực dân đến tiến hành khai thác thuộc địa tại khu vực Đông Nam Á đòi hỏi một lượng nhân công lớn đã góp phần thúc đẩy sự di cư đến các quốc gia Đông Nam Á của người Trung Quốc, tạo nên làn sóng di cư mạnh mẽ lần thứ nhất. Trong lần di cư này, đối tượng chủ yếu là những người lao động theo dạng hợp đồng. Điển hình như ở khu vực bán đảo Mã Lai, từ năm 1786 khi thực dân Anh chiếm Penang, cùng với sự bành trướng thế lực thực dân của Anh tại khu vực này dân số Hoa kiều ở bán đảo Mã Lai tăng lên mạnh mẽ. Theo con số thống kê, có ít nhất 5 triệu Hoa kiều đã đến vùng bán đảo Mã Lai (kể cả ở Singapore).
Đến năm 1901, dân số người Hoa trên bán đảo Mã Lai đã lên đến 419. Trong số người Hoa di cư đến các quốc gia Đông Nam Á thời kỳ đầu tiên chủ yếu là nam giới, 2 nguyên nhân chính là: thứ nhất, do tâm lý người Hoa tự coi mình là khách ở các quốc gia Đông Nam Á, họ phải lưu lạc ra nước ngoài để mưu sinh là do sự nghèo đói hoặc do chiến tranh, họ chỉ có một mong muốn duy nhất là có thể kiếm được tiền tại những vùng đất mới này sau đó quay về nước, hay chí ít là có thể được sống những năm cuối đời trên mảnh đất quê hương của họ; thứ hai, pháp luật một số nước ở Đông Nam Á hạn chế việc dắt theo người thân khi di cư, họ buộc phải để người thân ở lại quê nhà. Sự 14 mất cân bằng về tỉ lệ nam – nữ trong cộng đồng người Hoa ở các quốc gia Đông Nam Á thời kỳ đầu là một hiện tượng phổ biến, suốt mấy trăm năm, cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á vẫn giữ nguyên tình trạng này. Từ đầu thế kỷ 20 đến trước và sau cuộc đại chiến thế giới lần II, do các cuộc nội chiến và thiên tai ở Trung Quốc xảy ra liên miên, lượng người Hoa di cư sang các nước Đông Nam Á càng nhiều, tạo thành làn sóng di cư lớn thứ 2 trong lịch sử.
Đặc điểm lớn nhất của lần di cư này khác hẳn làn sóng di cư đầu tiên ở chỗ, phần lớn dân di cư đều dắt theo phụ nữ và trẻ em.