CHƯƠNG 1. SỰ RA ĐỜI CỦA BẾN LỘC AN TRONG TUYẾN ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN TẠI BÀ RỊA - VŨNG TÀU 1.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ 1.1 Đấu tranh đòi Mỹ - Diệm thi hành hiệp định Giơnevơ, chống đàn áp, khủng bố, đòi dân sinh, dân chủ. Hiệp định Giơnevơ được ký kết ngày (07/05/1954). Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân dân ta kết thúc thắng lợi.
Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Miền Nam tạm thời do đối phương kiểm soát. Hiệp định Giơnevơ là một thắng lợi to lớn của nhân dân ta trong suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng thời là pháp lý để nhân dân ta tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc [10, 149]. Theo hiệp định, từ vĩ tuyến 17 trở vào do đối phương tạm thời quản lý.
Mà “đối phương” ở đây không ai khác hơn là bọn bù nhìn tay sai cùng đội quân đánh thuế của Pháp vừa bị quân ta đánh bại, đang ráp ranh chuyển qua thờ chủ mới: bọn can thiệp Mỹ. Cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam diễn ra trong tình thể không có chính quyền, không có tấc sát trong tay. Trong khi đó, kẻ dịch đang rắp tâm phá hoại hiệp định vừa được ký kết. Chính trong cái gọi là “Tuyến cáo của chính phủ quốc gia Việt Nam”, Ngô Đình Diệm nói rõ “về bất cứ phương diện nào, chính phủ không tự coi mình là ràng buộc bởi hiệp định Giơnevơ, mà chính phủ không ký”.
Tháng 12/1954, hội nghị Tỉnh ủy mở rộng được tổ chức bên sông Ray, nhằm quán triệt đường lối đấu tranh cách mạng trong giai đoạn mới của Xứ ủy và Liên tỉnh ủy, đồng thời phổ biến một số quyết định về phân công, bố trí nhân sự, phương thức tổ chức, lãnh đạo quần chúng. Thay cho các đoàn thể cứu quốc trước đây nhằm tập hợp quần chúng như: hội ái hữu, nghiệp đoàn xe taxi (ở Vũng Tàu), hội xe ngựa, hội chài lưới ở các đồn điền cao su. Một số quần chúng tốt, vốn là cơ sở cách mạng trước đây chưa bị lộ, được chọn đưa vào các tổ chức như hội đồng hương chính xã, lực lượng bảo an vừa làm tai mắt cho cách mạng, vừa làm hạn chế ở mức thấp nhất những hành động có hại đến phong trào và quyền lợi của nhân dân. Nhờ vào sự mềm dẻo và khôn khéo, cán bộ của ta đã tìm cách dùng uy tín của cách mạng để thuyết phục, vận động lôi kéo một số chỉ huy cấp ủy, cấp tả, tình đoàn trường bảo an, kể cả 14 tranh thủ cảm tình của tỉnh trưởng trong một số công việc nhất định.
Công tác vận động công chức, vận động người Hoa cũng được quan tâm. Từ cuối năm 1954 đến năm 1956 phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân tỉnh Bến Tre diễn ra sôi nổi, rộng khắp, Bà Rịa - Vũng Tàu đã có hai đơn vị vũ trang tuyên truyền đã hỗ trợ đắc lực cho phong trào đấu tranh chính trị trong hoàn cảnh địch vẫn duy trì chính sách đàn áp và khủng bố không chút nương tay. Cũng trong thời gian này, cơ quan Tỉnh ủy từ Long Điền được dời hẳn vào nội ô thị xã Vũng Tàu, để có điều kiện theo dõi, nắm bắt kịp thời những chủ trương, kế hoạch của địch và có những biện pháp, đổi cách nhanh nhạy hơn. Việc cơ quan đầu não chuyển về độ thị, nơi có màng lưới mật vụ, cảnh sát ngụy bố trí dày đặc, mà không nằm ở căn cứ rừng sâu, đã được Tỉnh ủy khảo sát và cân nhắc kỹ.
Tóm lại, sau hiệp định Giơnevơ năm 1954 Mỹ hất cẳng Pháp nhảy vào Việt Nam đưa ra hàng loạt những chính sách khủng bố đàn áp phong trào cách mạng ở miền Nam nói chung và ở Bà Rịa - Vũng Tàu nói riêng. Nhân dân Bà Rịa - Vũng Tàu không còn con đường nào khác là phải dùng bạo lực chính trị và vũ trang để tự giải phóng mình. Vững vàng trong nhiệm vụ, trưởng thành nhanh chóng qua chiến đấu, công tác những người con kiên cường, bất khuất của vùng đất anh hùng đã làm nên những kì tích trong lịch sử giai đoạn sau này.2 Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng và tiếp nhận triển khai của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Bằng Luật 10/59, ban hành từ đầu tháng 05/1959, Ngô Đình Diệm đặt những người cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, lê máy chém đi khắp nơi để hành hình những người cán bộ cách mạng, những đảng viên cộng sản, nhằm uy hiếp tinh thần dân chúng, mà không cần xét xử. Ở Bà Rịa - Vũng Tàu, qua những đợt khủng bố khốc liệt của kẻ địch, hàng trăm đảng viên, cán bộ và đồng bào yêu nước bị giết, bị tra tấn đến chết, bị thủ tiêu, xác vứt trong rừng sâu, hoặc quảng xuống sông rạch, hoặc vùi lấp sơ sài.
Hàng trăm đồng chí, đồng bào khác sông quằn quại trong các nhà tù và những trại giam dựng lên vội vả khắp nơi. Trường học, đình, chùa, thánh thất cũng biến thành nơi giam cầm, tra tấn. Từ cuối năm 1959, tình hình trở nên căng thẳng, nghiệt ngã hơn. Mạng lưới chỉ điểm, mật vụ của địch được bủa ra khắp nơi dày đặc.
Nhiều cán bộ, 15 đảng viên không còn điều kiện hoạt động hợp pháp, hay bán hợp pháp nữa, buộc phải chuyển sang phương thức bất hợp pháp, thoát ly cơ sở nuôi giấu, vào rừng xây dựng căn cứ lõm bí mật, làm chỗ đứng chân tại Châu Pha (Hắt Dịch), Cửa Lấp (Vũng Tàu), rừng Minh Đạm (Long Đất), Long Phước, Thị Vãi (Châu Thành), rừng Cao Su (lộ 2). Trước tình hình đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam họp hội nghị lần thứ 15, ra Nghị quyết xác định về nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là “Nhiệm vụ trước mắt là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị, độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống của nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam châu Á và Thế giới” [15, 22-23]. Vì đó là nhiệm vụ quan trọng nhất của miền Nam lúc này thoát khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, góp phần xây dựng. Về phương pháp cách mạng, hội nghị nhấn mạnh: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là dùng bạo lực, theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì đường lối dùng bạo lực là: lấy sức mạnh quần chúng, dựa vào sức mạnh chính trị của quần chúng là chủ yếu kết hợp với sức mạnh vũ trang nhiều hoặc ít, tùy theo tình hình để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân” [15, 22].
Nghị Quyết 15 của Trung ương ra đời, dựa vào nhiệm vụ và phương pháp thực hiện đã nêu trên. Đã tác động và mở đường cho cách mạng miền Nam nói chung và nhân dân Bà Rịa - Vũng Tàu đã từ thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công địch. Tiếp nhận được Nghị quyết 15, tháng 11/1959, Xứ ủy Nam Bộ họp hội nghị lần thứ 4, đề ra nhiệm vụ cụ thể cho Đảng bộ Nam Bộ và kịp thời triển khai tinh thần nghị quyết đến các khu ủy và tỉnh ủy. Tháng 12-1960, tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu tổ chức hội nghị quán triệt tinh thần Nghị quyết 15 tại căn cứ suối Đá Đen, xã Hắc Dịch và chủ trường phát động nhân dân trong tình nôi dây diệt ác, phá kìm, dành chính quyền làm chủ địa phương.2 MỞ ĐƯỜNG TRÊN BIỂN ĐÔNG TẠI BẾN LỘC AN, BÀ RỊA - VŨNG TÀU 1.1 Bối cảnh Sau năm 1954, trong khi ta đang thực hiện rất đầy đủ và nghiêm túc nội dung của Hiệp định Giơnevơ thì miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, miền Nam thì Mỹ bắt đầu có hành động phá hoại hiệp định sau khi tuyên bố không chịu sự ràng buộc về những điều khoản của Hiệp định.
Vì thế chúng lập ra và dung túng cho chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm thực hiện âm mưu chia cắt Việt Nam lâu dài và lập nên cái gọi là “Nam kì tự trị”, chúng thi hành chính sách đàn áp và khủng bố tàn bạo, khẩu hiệu “thà giết nhầm còn hơn bỏ sót”. Giữa năm 1956, chúng mở chiến dịch “Trương Tấn Bửu” đánh phá khốc liệt phong trào cách mạng ở các tỉnh miền Đông Nam bộ. Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là một trong những địa bàn trọng điểm đánh phá của địch “Tình thế ấy nhất định thúc đẩy nhân dân miền Nam phải đứng lên đập tan chế độ độc tài, phát xít của Mỹ - Diệm để tự cứu mình” (trích đề cương cách mạng miền Nam 1965 của đồng chí Lê Duẩn). Lúc này, ở miền Đông Nam bộ, trung tâm đầu não của cuộc kháng chiến, lực lượng vũ trang phát triển nhanh chóng.
Nhận rõ yêu cầu cấp bách phải kịp thời chi viện cho đồng bào, chiến sĩ miền Nam trực tiếp chống Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, ngày 19/05/1959, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập “Đoàn công tác quân sự đặc biệt” (sau đổi tên là Đoàn 559) có nhiệm vụ mở đường vận chuyển hàng hóa, tổ chức đưa đón bộ đội, cán bộ từ Bắc vào Nam và từ Nam ra Bắc. Tiếp đó, tháng 07/1959, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Tiểu đoàn vận tải thủy 603, có nhiệm vụ mở đường trên biển vận chuyển vũ khí, hàng hóa và con người chi viện cho miền Nam. Để giữ bí mật, Tiểu đoàn hoạt động dưới tên gọi “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh” cùng với đó đã tổ chức thành công một số bến tiếp nhận vũ khí bằng đường biển ở một số tỉnh Nam bộ như Lộc An, Bến Tre, Trà Vinh, Cà Mau. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Bà Rịa - Vũng Tàu cùng với nhân dân miền Nam không có con đường nào khác là vùng dậy đấu tranh, tiếp tục kháng chiến để giải phóng quê hương, đất nước.
Vùng sông biển Xuyên Mộc, Cần Giờ lại ghi tiếp những chiến công trong giai đoạn của cách mạng, đối đầu với những thử thách ác liệt trước một kẻ thù có tiềm lực mạnh và thủ đoạn xảo quyệt hơn.