Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG DỂ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Khái niệm trang trí, các thể loại nghệ thuật tạo hình Theo “Từ điển Tiếng Việt” thì “trang trí” là “ Sắp xếp, bố trí các vật có hình khối, đường nét, màu sắc khác nhau sao cho tạo ra một sự hài hoà, làm đẹp mắt một khoảng không gian nào đó”[15 ]. Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm trang trí, song tựu chung lại là ở mục đích làm đẹp cho vẻ ngoài, tăng giá trị thẩm mỹ của đối tượng. Tính trang trí cũng có mặt ở các mảng nghệ thuật điêu khắc và hội họa.
“Mỹ thuật là từ chỉ loại hình nghệ thuật có quan hệ đến sự thụ cảm bằng mắt và sự tạo thành các hình tượng lấy từ thế giới vật chất bên ngoài để đưa lên mặt phẳng hai chiều hoặc một không gian ba chiều” [ 14]. Hiện nay chưa có sự nhất quán về quan niệm chuẩn mực mỹ thuật. Tuy vậy, mỹ thuật có hệ thống giá trị thẩm mỹ riêng, mang tính hàn lâm, kinh viện để đánh giá mức độ, giá trị nghệ thuật của các tác phẩm. Theo “Từ điển mỹ học” của Étienne Souriau (1990) thì tiêu chuẩn mỹ thuật mang tính kinh viện gồm có: “nhạy cảm, mang tới nhiều cảm xúc cho người thưởng thức, kĩ thuật thể hiện tốt, mức độ diễn tả đạt tới một trong các loại hình mỹ học”.
Trên thế giới, ở Việt Nam chúng ta thường chỉ thừa nhận khái niệm Mỹ thuật theo nghĩa hàn lâm và có sự phân biệt rõ rệt giữa mỹ thuật với thủ công mỹ nghệ, mỹ thuật ứng dụng. Mỹ thuật còn có tên gọi khác là nghệ thuật tạo hình. Theo “ Từ điển tiếng Việt ”[15] nghệ thuật tạo hình là “Tạo ra các hình thể bằng đường nét, hình khối, màu sắc”. Theo “ Từ điển bách khoa toàn thư” [11] thì nghệ thuật tạo hình là “Thủ pháp sáng tạo nghệ thuật bằng ngôn ngữ hình khối, màu sắc, chất cảm, không gian, bố cục”.
Như vậy, có thể hiểu nghệ thuật tạo hình nói chung, là nghệ thuật sử dụng một số phương tiện 10 và chất liệu, tạo nên những hình thức trên mặt phẳng và trong không gian. Những tác phẩm hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc, đồ họa, được coi là những sản phẩm của lĩnh vực nghệ thuật tạo hình. Bên cạnh đó, nghệ thuật tạo hình còn được gọi là nghệ thuật không gian, nghệ thuật thị giác… Mỗi loại hình nghệ thuật thị giác có cách biểu hiện khác nhau tuỳ thuộc vào đặc trưng ngôn ngữ tạo hình. Có 4 thể loại nghệ thuật tạo hình được chia theo nội dùng và hình thức thể hiện là Hội Họa, Kiến Trúc, Điêu Khắc và Đồ Họa.
Các tác phẩm hội họa được thể hiện trực tiếp và có tính độc bản. Hội họa có không gian ảo chỉ có thể cảm nhận bằng thị giác. Một đặc trưng nữa của hội họa là tính tạo hình trực tiếp bằng các yếu tố ngôn ngữ tạo hình: hình, khối, đường nét, màu sắc. Hội họa là một mảng quan trọng của mỹ thuật.
Đồ Họa: Nghệ thuật tạo hình được thể hiện gián tiếp trên bề mặt 2 chiều thông qua các kĩ thuật in ấn, vì vậy có tính đa dạng về số lượng tác phẩm, có thể có nhiều bản sao hoặc các tác phẩm độc bản. Ngôn ngữ đặc trưng của đồ họa là đường, nét, chấm, vạch, hình và màu. Điêu khắc: Nghệ thuật tạo hình được thể hiện trong không gian ba chiều (tượng tròn) hoặc hai chiều (phù điêu, chạm khắc). Nghệ thuật điêu khắc sử dụng các chất liệu như: gỗ, đá, đồng, đất, thạch cao.
để tạo nên tác phẩm nghệ thuật tồn tại và chiếm chỗ trong không gian thực bằng cách tạc, đục, nặn gò. Điêu khắc có ngôn ngữ tạo hình giống với hội họa và đồ họa, nhưng được khai thác trên những góc độ khác do tính đặc trung của mình: khối, hình, đường nét, bề mặt, chất liệu, không gian, màu sắc. Kiến trúc: Nghệ thuật tạo hình được thể hiện trong không gian ba chiều và thiên về công năng sử dụng, thông qua các kỹ thuật xây dựng, trang trí. Ở 11 một mức độ nào đó nó có thể coi là tổng hòa ứng dụng của các loại hình nghệ thuật khác (chủ yếu ở mục đích trang trí các công trình kiến trúc).
Mối quan hệ giữa trang trí và kiến trúc, điêu khắc với kiến trúc trong nghệ thuật tạo hình 1. Mối quan hệ giữa trang trí và kiến trúc Kiến trúc và trang trí là các loại hình nghệ thuật xuất hiện rất sớm trong lịch sử xã hội loài người luôn có mối quan hệ gắn bó với nhau bởi tính đặc thù của nó. Kiến trúc và trang trí đều có ý nghĩa thực dụng rất rõ nét; một mặt nó là lĩnh vực tinh thần – sáng tạo nghệ thuật và lĩnh vực vật chất – sáng tạo trong sản xuất vật chất. Các công trình kiến trúc đều có sự xuất hiện của nghệ thuật trang trí.
Sự luân chuyển nhịp nhàng, uyển chuyển và sự kết hợp các đường nét hình học cách điệu và các yếu tố tạo hình hợp thành hoa văn – họa tiết trang trí trên kiến trúc. Cũng chính vì vậy, trang trí như một bộ phận hợp thành toàn bộ công trình kiến trúc, song mặt khắc bản thân nó cũng có thể được coi là một tác phẩm nghệ thuật hội họa riêng biệt, độc đáo. Kiến trúc là một loại hình nghệ thuật mà cho đến ngày nay trong nghệ thuật vẫn còn diễn ra những cuộc tranh cãi rằng, nó có thuộc nghệ thuật hay không. Xét về chức năng của nó, thì kiến trúc là thực dụng, nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất của xã hội, và trước hết là nhu cầu về nhà ở, công trình để lao động, nghỉ ngơi và điều hành các chức năng xã hội.
Nhưng đồng thời kiến trúc là một nghệ thuật riêng biệt, trong đó cũng như nghệ thuật ứng dụng, điều có ý nghĩa quan trọng không chỉ là chức năng thực dụng, công dụng thực tế của các công trình, mà còn là bản chất thẩm mỹ của chúng, sự tác động giữa tư tưởng với tình cảm, sự thỏa mãn nhu cầu cái đẹp của con người. Đặc trưng của ngôn ngữ của nghệ thuật kiến trúc là ở chỗ, trong hai tính năng phục vụ lợi ích và thẩm mỹ, thì tính năng phục vụ lợi ích có ý nghĩa 12 nội dung, mang tích mục đích, tính năng thẩm mỹ mang ý nghĩ hình thức. Cho nên, các hình tượng của nó mang tính chất ích dụng; mặt khác cái đẹp về hình thức kết hợp cái ích dụng vật chất và tinh thần lại phản ánh những tư tưởng chung, về sự khẳng định cuộc sống, về tầm vĩ đại, về sự hùng mạnh của những tư tưởng thẩm mỹ về cái đẹp. Là nghệ thuật chiếm lĩnh không gian, bằng phương pháp tạo hình, nên cái đẹp trong kiến trúc được tạo dựng thông qua hình khối, đường nét, các tỉ lệ, nhịp điệu và kiểu dáng cao - thấp, rộng - hẹp, cong - thẳng, mau - thưa.
Do những điều kiện lịch sử, tôn giáo khác nhau mà các phong cách kiến trúc cũng khác nhau. Kiến trúc châu Âu khác với kiến trúc châu Á, kiến trúc Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Phật giáo cũng khác nhau. Trong đặc trưng ngôn ngữ của nghệ thuật kiến trúc tác động, gợi ý nghĩa bằng đặc tính chất liệu của nó từ đất, đá, gỗ, mây, tre, nứa, lá, kim loại. Kiến trúc bao gồm nhiều thể loại được phân theo chức năng của công trình.
Trang trí cũng là loại hình có từ lâu đời gắn bó mật thiết với nghệ thuật kiến trúc, mà đặc điểm nổi bật của nó cũng bao hàm tính năng phục vụ lợi ích và thẩm mỹ. Đặc trưng của nghệ thuật trang trí là hình trang trí (hoa văn). Các yếu tố hợp thành hoa văn là họa tiết và nhịp điệu. Trong đó các họa tiết kết hợp các đường nét hình học theo một kiểu nào đó thì nhịp điệu lại nối các họa tiết với nhau thành một khối thống nhất, lặp đi, lặp lại nhiều lần tạo sự hài hòa, nhịp nhàng và thống nhất giữa các yếu tố trong một tác phẩm trang trí.
Có thể thấy sự gắn kết giữa nghệ thuật trang trí và kiến trúc xuất hiện từ sớm, ngay từ thuở bình minh sơ khai của loài người. Nhu cầu về nơi ở, không gian sống, nơi sinh hoạt tâm linh,. đã thúc giục con người lao động và sáng tạo. Những công trình kiến trúc cổ cũng chính là những công trình đậm tính nghệ thuật.
Trong lịch sử mỹ thuật thế giới nói chung, những công trình kiến trúc phục vụ cộng đồng người đều là nơi thể hiện giá trị văn hóa, nghệ 13 thuật rõ nét, đặc biệt là những công trình kiến trúc tôn giáo. Có thể điểm qua một vài công trình kiến trúc – nghệ thuật-tôn giáo : Đền Taj Mahal ở Ấn Độ, khu đồi Acropolis ở Hy Lạp, những Kim tự tháp ở Ai Cập, những Kim tự tháp đôi của nền văn minh Aztec – Mexico, Angkor Wat ở Campuchia. Việt Nam cũng có những công trình kiến trúc-nghệ thuật đẹp, đó là những đền đài, miếu mạo, chùa chiền trải khắp chiều dài đất nước. Mối quan hệ giữa điêu khắc và kiến trúc Điêu khắc là một ngành của nghệ thuật tạo hình, quá trình sáng tạo dựa trên nguyên tắc về thể tích, hình khối, vật chất trong không gian ba chiều và chịu sự chi phối của những quy luật tạo hình.
Tác phẩm của điêu khắc thường được tạo ra bằng cách tạo hình hoặc kết hợp vật liệu như kim loại, đá, thủy tinh, gỗ, đất sét, dệt may, nhựa, polyme, các kim loại nhẹ. Các thể loại chính của điêu khắc gồm có “tượng tròn” và “phù điêu”. “Tượng tròn” là danh từ chỉ các tác phẩm điêu khắc tồn tại ba chiều trong không gian. Căn cứ vào hình thức biểu đạt, có thể chia “tượng tròn” ra thành các thể loại: chân dung, nhóm tượng, tượng trang trí nội ngoại thất.
“Phù điêu” là một từ Hán Việt, có thể hiểu như sau : “phù” là nổi, “điêu” là đắp, chạm, khắc. Vậy, “phù điêu” là hình thức đắp, chạm, khắc làm cho hình nổi, chìm, cao, thấp trên một mặt phẳng nào đó. Điêu khắc rất hay được sử dụng trong trang trí kiến trúc. Loại hình tượng tròn có mặt trong bài trí không gian, loại hình phù điêu có mặt trong trang trí các kết cấu kiến trúc.
Đặt trong mối quan hệ chung giữa các thể loại của nghệ thuật tạo hình, Kiến trúc và Điêu khắc có mối liên hệ hữu cơ khá bền chặt Tùy theo công năng, mục đích sử dụng công trình kiến trúc mà có thể loại trang trí tương xứng. Có thể thấy mối quan hệ này thể hiện ở các mảng tường trang trí phù điêu đắp nổi, những mảng chạm khắc trang trí kết cấu kiến trúc.