Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Khai thác các giá trị của Thăng Long Tứ Trấn phục vụ phát triển du lịch tôn giáo tín ngưỡng" do sinh viên Nguyễn Thị Dung thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Đào Thị Thanh Mai tại Khoa Du lịch, Trường Đại học Dân lập Hải Phòng (năm 2015). Nghiên cứu thuộc ngành Văn hóa du lịch, tiếp cận theo hướng nghiên cứu văn hóa - lịch sử ứng dụng kết hợp khảo sát thực trạng hoạt động du lịch tại điểm đến di sản.
Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mở cửa kinh tế, du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn mang tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Cùng với sự phát triển kinh tế và áp lực đời sống hiện đại, nhu cầu tìm kiếm các giá trị tinh thần, giải tỏa căng thẳng và hướng thiện của con người ngày càng gia tăng. Thủ đô Hà Nội với bề dày nghìn năm lịch sử sở hữu nguồn tài nguyên du lịch văn hóa - tâm linh phong phú. Tính đến năm 2014, Hà Nội dẫn đầu cả nước với 3.840 di tích trên tổng số gần 40.000 di tích của Việt Nam, trong đó có 1.164 di tích cấp quốc gia (trên tổng số gần 3.500 di tích cấp quốc gia toàn quốc) và khoảng 2.000 di tích đã được xếp hạng. Hệ thống cơ sở lưu trú của thành phố gồm 511 cơ sở với hơn 12.700 phòng, trong đó có 9 khách sạn 5 sao (Daewoo, Horison, Hilton Hanoi Opera, Melia, Nikko, Sofitel Metropole, Sheraton, Sofitel Plaza, InterContinental), 6 khách sạn 4 sao và 19 khách sạn 3 sao.
Nằm trong hệ thống di sản của thủ đô, Thăng Long Tứ Trấn là cụm di tích lịch sử - văn hóa tâm linh trấn giữ bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc của kinh thành Thăng Long xưa. Mặc dù sở hữu những giá trị văn hóa, kiến trúc và tín ngưỡng sâu sắc, công tác bảo tồn cũng như việc khai thác cụm di tích này phục vụ hoạt động du lịch vẫn còn nhiều mặt hạn chế, thiếu tính đồng bộ và chưa tương xứng với tiềm năng.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định gồm ba nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tôn giáo, tín ngưỡng và loại hình du lịch tôn giáo tín ngưỡng.
- Khảo sát, đánh giá các giá trị tiêu biểu cùng hiện trạng quản lý, khai thác du lịch tại cụm di tích Thăng Long Tứ Trấn.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát triển du lịch tôn giáo tín ngưỡng tại cụm di tích.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về du lịch tôn giáo tín ngưỡng; hiện trạng bảo tồn và các giải pháp khai thác du lịch tôn giáo tín ngưỡng tại Thăng Long Tứ Trấn.
- Phạm vi không gian: Cụm bốn di tích đền thuộc Thăng Long Tứ Trấn trên địa bàn Hà Nội, gồm đền Bạch Mã (quận Hoàn Kiếm), đền Voi Phục (quận Ba Đình), đền Kim Liên (quận Đống Đa) và đền Quán Thánh (quận Ba Đình).
- Phạm vi thời gian: Khóa luận được tiến hành thu thập dữ liệu và khảo sát thực địa từ tháng 4/2015 đến tháng 6/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về cơ sở lý thuyết, tác giả tổng hợp các khái niệm học thuật về tôn giáo và tín ngưỡng. Tôn giáo (religion, gốc Latinh religio) được tiếp cận qua bốn lối định nghĩa: lối theo chức năng (hệ thống tín ngưỡng giải quyết các vấn đề căn bản về nhân sinh, đạo đức), lối theo hình thể (xác nhận những điều siêu nhiên dựa trên thiên khải/kinh nghiệm thần thánh), lối theo chứng cứ vật chất (tín ngưỡng về nhân quả nằm ngoài nguyên lý Occam's Razor), và lối tổ chức (các hội đoàn, giáo hội, quy chế đạo đức chính thức). Tác giả phân biệt tôn giáo (có giáo lý, kinh điển, giáo hội chặt chẽ, nơi thờ cúng quy chuẩn) với tín ngưỡng (mang tính dân gian, gắn với truyền thuyết thần tích, chưa có tổ chức và giáo lý khép kín). Du lịch tôn giáo tín ngưỡng được định nghĩa là một nhánh của du lịch văn hóa, kết hợp giữa nhu cầu tham quan, thưởng ngoạn cảnh quan kiến trúc với nhu cầu hành hương, chiêm bái, giải tỏa tâm lý và củng cố đức tin hướng tới Chân - Thiện - Mỹ.
Khung pháp lý được văn bản trích dẫn gồm Luật Di sản văn hóa và các quy định nhà nước về bảo tồn, phân cấp quản lý di tích lịch sử - văn hóa.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp ba phương pháp cụ thể:
- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Khai thác hệ thống giáo trình chuyên ngành du lịch, sách lịch sử, tạp chí nghiên cứu tôn giáo, văn bia Hán Nôm tại di tích và các báo cáo thống kê do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội cùng các ban quản lý di tích cung cấp.
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh tổng hợp: Phân loại, đối chiếu các chuỗi số liệu về lượt khách du lịch, cơ sở lưu trú, các chỉ số xã hội học về thực hành nghi lễ tôn giáo để đánh giá thực trạng khai thác.
- Phương pháp khảo sát thực tế: Tác giả trực tiếp điền dã tại bốn ngôi đền Bạch Mã, Voi Phục, Kim Liên, Quán Thánh nhằm ghi nhận hiện trạng cảnh quan kiến trúc, không gian thờ tự và quy trình đón tiếp khách tham quan.
Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm:
- Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo thống kê du lịch Hà Nội năm 2013-2014; số liệu khảo sát xã hội học về thực hành thờ cúng tại gia và lễ chùa của ThS. Lê Ngọc Lân (Viện Gia đình và Giới) trên cỡ mẫu 1.211 người; các tư liệu văn bia cổ như bia "Cao Sơn đại vương thần từ bi minh" (1510) và hệ thống sắc phong.
- Dữ liệu sơ cấp: Kết quả quan sát thực địa, phỏng vấn đại diện ban quản lý và ghi nhận lượng khách tại các điểm di tích trong giai đoạn tháng 4 đến tháng 6 năm 2015.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Cơ sở lý luận về du lịch tôn giáo tín ngưỡng
Chương này tập trung làm rõ nguồn gốc lịch sử, điều kiện hình thành và bản chất của du lịch tôn giáo tín ngưỡng. Tác giả phân tích sự ra đời của tín ngưỡng từ thời tiền sử khi con người đối mặt với thiên tai và sự bất khả tri về tự nhiên; tại Việt Nam, dấu tích thờ phụng tự nhiên được thể hiện qua hình tượng chim Lạc trên trống đồng Đông Sơn, hình tượng rồng và tục thờ thần sông, thần núi.
Văn bản nêu bật các đặc trưng của du lịch tôn giáo tín ngưỡng tại Việt Nam: gắn bó mật thiết nhất với Phật giáo, đồng thời dung hợp với Đạo giáo, tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng và tri ân các bậc tiền nhân có công với đất nước. Hoạt động này gắn liền với đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", tiêu biểu là Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, cùng các hình thức rèn luyện tinh thần như thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Để minh chứng cho nhu cầu tâm linh trong xã hội, chương 1 trích dẫn số liệu khảo sát của ThS. Lê Ngọc Lân (Viện Gia đình và Giới):
- Hoạt động lễ chùa: 48,1% người được hỏi tham gia vào các dịp lễ chính (Tết, rằm tháng Giêng, tháng Bảy, tháng Tám, tháng Chạp); 20,9% đi vào ngày rằm và mồng một hàng tháng; 7,3% đi nhân dịp công tác hoặc du lịch; 23,4% hoàn toàn không đi lễ chùa. Trong các hành vi khi đi lễ, việc đặt lễ công đức "giọt dầu" chiếm tỷ lệ cao nhất với 97,5%.
- Thực hành thờ cúng tại gia (khảo sát trên 1.211 người): 83,2% thực hiện 1-2 lần/tháng; 4,1% cúng 1-2 lần/năm; 2,6% vài lần/năm; 3,7% không thực hiện lần nào.
- Cơ cấu bàn thờ gia đình: 94% hộ gia đình thờ cúng tổ tiên, 46,1% thờ Ông Địa, 10,9% thờ Thần Tài, 8,8% thờ Phật. Về nhận thức, 70,4% khẳng định thờ cúng là phong tục tập quán tốt cần gìn giữ; 48,6% coi đây là dịp bày tỏ lòng thành kính với tổ tiên; 6,8% nhấn mạnh tác dụng giáo dục con cái.
Chương 2. Hiện trạng khai thác các giá trị của Thăng Long Tứ Trấn (Hà Nội) phục vụ phát triển du lịch tôn giáo tín ngưỡng
Nội dung chương 2 phân tích chiều sâu lịch sử, giá trị kiến trúc nghệ thuật và thực trạng khai thác của cụm di tích. Tác giả làm rõ Thăng Long Tứ Trấn theo hai nghĩa: nghĩa rộng là bốn kinh trấn bao quanh kinh đô (Kinh Bắc - trấn Bắc, Sơn Nam - trấn Nam, Hải Dương - trấn Đông, Sơn Tây - trấn Tây); nghĩa hẹp là bốn ngôi đền thiêng bảo trợ bốn phương thành Thăng Long:
-
Đền Bạch Mã (Trấn Đông): Tọa lạc tại số 76 phố Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm. Đền được xây dựng từ thế kỷ 9, thờ thần Long Đỗ (thành hoàng Hà Nội). Sự tích gắn với việc ngựa trắng hiện linh giúp vua Lý Thái Tổ thấy vết chân để đắp thành Thăng Long không bị lở. Đền được tu bổ lớn vào niên hiệu Chính Hòa (1680-1705), năm 1781 chúa Trịnh cho dân địa phương tạo lệ thờ phụng, năm 1829 và 1839 (Minh Mệnh thứ 20) tiếp tục trùng tu, dựng thêm phương đình và văn chỉ. Kiến trúc mang phong cách thời Nguyễn thế kỷ 19, nổi bật với hệ khung gỗ lim, bộ vì "giá chiêng chồng rường con nhị", "hệ củng 3 phương" tại phương đình và vòm vỏ cua tại nhà thiêu hương. Đền phối thờ theo hình thức "tam nguyên đồng hóa" (thờ thêm Phật và Mẫu), được xếp hạng di tích quốc gia năm 1986. Hiện đền lưu giữ 15 bia đá cổ và bài thơ chữ Hán khắc gỗ của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải. Lễ hội diễn ra vào ngày 12-13 tháng 2 âm lịch.
-
Đền Voi Phục (Trấn Tây): Tọa lạc tại làng Thủ Lệ, nay thuộc phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình. Đền được khởi dựng năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 7 (1065) đời vua Lý Thánh Tông trên gò Long Thủ, thờ hoàng tử Linh Lang (con vua Lý Thái Tông và bà phi thứ 9 Dương Thị Quang), người có công đánh giặc Tống và hy sinh trên tuyến sông Cầu năm 1076. Đền có mặt bằng kiến trúc chữ Công (Tiền tế 5 gian, Trung đường 1 gian, Hậu cung 5 gian), bảo lưu ngai thờ chạm rồng rước từ thế kỷ 19, hòn đá thiêng có vết lõm đặt trong hộp kính, đôi rồng mây chạm đá tròn và đôi hổ phù thời Nguyễn. Khuôn viên đền sở hữu 9 cây muỗm cổ thụ khoảng 700 năm tuổi (chu vi thân 3-5m, cao 25-30m). Năm 1994, nhân dân đúc lại chuông đồng cao 93cm, đường kính miệng 70cm, khắc bốn chữ "Tây trấn thượng đẳng". Đền được xếp hạng di tích quốc gia ngày 28/4/1962, trải qua các đợt trùng tu lớn vào ngày 10/8/2000 và ngày 4/7/2009. Lễ hội chính diễn ra vào ngày 9-10 tháng 2 âm lịch.
-
Đền Kim Liên (Trấn Nam): Tọa lạc tại phường Phương Liên, quận Đống Đa. Đền thờ Cao Sơn Đại Vương (người con theo mẹ Âu Cơ lên núi). Tương truyền đền có từ thời Lý Thái Tổ; đến năm 1509, vua Lê Tương Dực cho xây dựng lại quy mô lớn để tạ ơn thần đã phù trợ dẹp loạn bảo vệ ngai vàng. Kiến trúc gồm cổng trụ biểu, giải vũ, nghi môn 3 gian bít đốc kết cấu chồng rường giá chiêng cột trốn, đại bái 5 gian (tu bổ năm 2000 kỷ niệm 990 năm Thăng Long) và hậu cung 3 gian xây cuốn vòm. Di vật giá trị nhất tại đền là tấm bia đá "Cao Sơn đại vương thần từ bi minh" do sử thần Lê Tung soạn năm 1510 (cao 2,34m, rộng 1,57m, dày 0,22m) cùng hệ thống 39 đạo sắc phong (26 đạo thời Lê Trung Hưng, sớm nhất là năm Vĩnh Tộ thứ 2 - 1620, và 13 đạo thời Nguyễn). Lễ hội đền tổ chức ngày 15-16 tháng 3 âm lịch, nổi bật với cuộc thi tay kéo cắt tóc truyền thống của làng Kim Liên.
-
Đền Quán Thánh (Trấn Bắc): Tọa lạc tại ngã tư đường Thanh Niên và phố Quán Thánh, quận Ba Đình. Đền thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, khởi dựng từ đầu thời Lý, là đạo quán duy nhất còn giữ được yếu tố Đạo giáo trong "Thăng Long tứ quán" (cùng với Huyền Thiên quán, Đồng Thiên quán, Đế Thích quán - ba quán này về sau đều bị Phật giáo hóa thành chùa). Đền trải qua nhiều đợt trùng tu: 1618, 1677, 1768, 1836, 1843, 1893, 1941. Năm Vĩnh Trị thứ 2 (1677), chúa Trịnh Tạc giao Trịnh Căn chỉ đạo nghệ nhân Vũ Công Chấn đúc pho tượng Trấn Vũ bằng đồng hun đen (nặng 4 tấn, cao 3,96m, chu vi 8m, tọa trên bệ đá cẩm thạch 1,2m; kiếm quấn rắn chống trên lưng rùa). Năm Cảnh Thịnh thứ 2 (1794), Đô đốc Tây Sơn Lê Văn Ngữ cho đúc chiếc khánh đồng lớn. Vua Minh Mạng đổi tên thành "Chân Vũ quán", vua Thiệu Trị ban tiền đúc vòng vàng đeo cho tượng năm 1842. Đền được xếp hạng di tích quốc gia đợt đầu năm 1962.
Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ số cơ bản của cụm di tích Thăng Long Tứ Trấn:
| Di tích |
Hướng trấn |
Vị trí hành chính |
Đối tượng phụng thờ |
Niên đại khởi dựng |
Hiện vật, dấu ấn kiến trúc tiêu biểu |
Lượng khách tham quan ghi nhận |
| Đền Bạch Mã |
Đông |
76 Hàng Buồm, Hoàn Kiếm |
Thần Long Đỗ |
Thế kỷ 9 |
Cấu trúc củng 3 phương, vòm vỏ cua, 15 văn bia, thơ Trần Quang Khải |
900 - 1.000 lượt/tháng (tháng cao điểm đạt 2.000 lượt) |
| Đền Voi Phục |
Tây |
Phường Ngọc Khánh, Ba Đình |
Linh Lang Đại Vương |
Năm 1065 (thế kỷ 11) |
Kiến trúc chữ Công, 9 cây muỗm cổ thụ ~700 năm, chuông đồng 1994 |
10.000 - 12.000 lượt/năm |
| Đền Kim Liên |
Nam |
Phường Phương Liên, Đống Đa |
Cao Sơn Đại Vương |
Thời Lý, dựng lại 1509 |
Bia đá Lê Tung (1510), 39 đạo sắc phong cổ |
Khoảng 10.000 lượt/năm |
| Đền Quán Thánh |
Bắc |
Đường Thanh Niên, Ba Đình |
Huyền Thiên Trấn Vũ |
Thế kỷ 10 - 11 |
Tượng đồng đen nặng 4 tấn (1677), khánh đồng Cảnh Thịnh (1794) |
Trên 20.000 lượt/năm (thu phí 10.000 đồng/lượt) |
Về thực trạng quản lý và tổ chức khai thác:
Cụm di tích chịu sự điều hành của nhiều đầu mối: Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch); Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội; Ban Quản lý di tích Hà Nội; Phòng Văn hóa và Thông tin các quận Đống Đa, Ba Đình, Hoàn Kiếm; Ban quản lý riêng tại từng đền; Ủy ban nhân dân các phường sở tại; Ban Quản lý dự án các quận. Riêng đền Voi Phục còn có sự tham gia quản lý của Công ty TNHH MTV Vườn thú Hà Nội. Mô hình quản lý đa tầng nấc này gây ra hiện tượng chồng chéo, khó phân định trách nhiệm rõ ràng trong việc bảo tồn và xúc tiến du lịch. Về tài chính, ngoại trừ đền Quán Thánh áp dụng thu phí tham quan 10.000 đồng/lượt, ba đền còn lại chỉ có nguồn thu từ tiền công đức và tiền giọt dầu (được ban quản lý và chính quyền kiểm kê 6 tháng một lần gửi vào ngân hàng phục vụ trùng tu).
Chương 3. Một số giải pháp và kiến nghị
Trên cơ sở các tồn tại ở chương 2, chương 3 đưa ra các định hướng giải pháp và kiến nghị cụ thể:
Các nhóm giải pháp:
- Tăng cường công tác quản lý và bảo vệ cảnh quan: Quy hoạch lại không gian xung quanh di tích, xử lý tình trạng lấn chiếm lòng lề đường và bảo vệ môi trường sinh thái quanh đền.
- Tuyên truyền, quảng bá: Xuất bản tài liệu, ấn phẩm giới thiệu giá trị lịch sử văn hóa của Tứ Trấn bằng nhiều ngôn ngữ; đưa thông tin lên các phương tiện truyền thông và cổng thông tin du lịch.
- Tuyên truyền, giáo dục ý thức: Nâng cao văn hóa ứng xử của khách đi lễ và người dân địa phương; hạn chế đốt vàng mã, đặt tiền giọt dầu sai quy định và giữ gìn trật tự nơi tôn nghiêm.
- Ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật: Áp dụng công nghệ vào việc giám sát, chống mối mọt cấu kiện gỗ, số hóa hệ thống văn bia, sắc phong và tư liệu Hán Nôm.
- Phát triển nguồn nhân lực: Tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức văn hóa, lịch sử, kỹ năng ngoại ngữ cho đội ngũ thuyết minh viên và cán bộ quản lý di tích.
- Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm du lịch: Xây dựng tuyến du lịch chuyên đề kết nối trọn vẹn 4 ngôi đền trong ngày; kết hợp tham quan di tích với thưởng thức nghệ thuật dân gian và lễ hội truyền thống.
- Nâng cao sự sẵn sàng đón tiếp du khách: Hoàn thiện bãi đỗ xe, bố trí hệ thống biển chỉ dẫn rõ ràng, chỉnh trang các công trình vệ sinh công cộng đạt chuẩn.
Hệ thống kiến nghị theo cấp quản lý:
- Đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Hỗ trợ cơ chế chính sách, đẩy nhanh thẩm định các dự án bảo tồn, tôn tạo và cấp kinh phí tu bổ cho các hạng mục xuống cấp.
- Đối với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội: Tích hợp Thăng Long Tứ Trấn vào bản đồ tour tuyến du lịch trọng điểm của thủ đô; làm đầu mối kết nối các doanh nghiệp lữ hành với ban quản lý các di tích; tổ chức tập huấn chuyên môn định kỳ.
- Đối với Ban Quản lý di tích và chính quyền địa phương: Rà soát quy chế phối hợp giữa các đơn vị liên ngành để tránh chồng chéo; công khai, minh bạch nguồn thu tiền công đức phục vụ tái thiết di tích; tăng cường bảo vệ an ninh trật tự trong mùa lễ hội.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ nguồn tài nguyên di sản văn hóa tâm linh của Thăng Long Tứ Trấn dưới góc độ phát triển kinh tế du lịch:
- Tập hợp đầy đủ các dữ liệu lịch sử, niên đại xây dựng, thần tích, đối tượng phụng thờ và các cổ vật đặc thù của từng ngôi đền (tấm bia đá năm 1510 và 39 đạo sắc phong tại đền Kim Liên; tượng đồng đen 4 tấn đúc năm 1677 tại đền Quán Thánh; 9 cây muỗm 700 năm tuổi tại đền Voi Phục; 15 văn bia và bài thơ của Trần Quang Khải tại đền Bạch Mã).
- Định lượng hóa quy mô du lịch Hà Nội và cụm di tích thông qua các số liệu thống kê: Hà Nội có 3.840 di tích, 511 cơ sở lưu trú; năm 2013 đón 2,58 triệu lượt khách quốc tế (tăng 12,2%) và 14 triệu lượt khách nội địa (tăng 11,3%); phản ánh đúng thực trạng chênh lệch lượt khách giữa các đền (Quán Thánh đón trên 20.000 lượt/năm trong khi Kim Liên đón khoảng 10.000 lượt/năm).
- Phát hiện và chỉ rõ hạn chế mang tính hệ thống trong mô hình quản lý phân tán, có sự tham gia của quá nhiều cơ quan (Cục, Sở, Phòng VHTT quận, UBND phường, Ban quản lý, Công ty TNHH MTV Vườn thú Hà Nội), dẫn tới hiện tượng chồng chéo chức năng.
- Đề xuất hệ thống 7 nhóm giải pháp và 3 nhóm kiến nghị phân cấp có tính khả thi, gắn kết giữa bảo tồn di sản văn hóa với kinh doanh lữ hành.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Theo tự nhận định của tác giả trong phần mở đầu và kết luận, khóa luận có những hạn chế nhất định:
- Thời gian nghiên cứu thực tế tương đối ngắn (thực hiện từ tháng 4/2015 đến tháng 6/2015), kinh nghiệm nghiên cứu điền dã của sinh viên còn hạn chế nên chưa thể khảo sát sâu các khía cạnh kỹ thuật bảo quản hiện vật gỗ và đồng hun.
- Chưa thu thập được số liệu tài chính chi tiết về nguồn thu tiền công đức tại cả bốn ngôi đền do tính chất bảo mật nội bộ của các ban quản lý, ngoại trừ số liệu giá vé tham quan 10.000 đồng tại đền Quán Thánh.
- Về hướng mở rộng: Tác giả gợi ý cần có các nghiên cứu liên ngành sâu hơn về giải pháp quy hoạch không gian đô thị bao quanh các di tích (đặc biệt khi đền Bạch Mã nằm lọt trong phố cổ chật hẹp, đầm Kim Liên phía trước đền Kim Liên bị san lấp làm đường vành đai 1) và xây dựng mô hình liên kết lữ hành đưa Thăng Long Tứ Trấn thành tuyến điểm bắt buộc cho khách quốc tế khi đến Hà Nội.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học ngành Văn hóa du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Việt Nam học khi tìm kiếm tư liệu điền dã thực tế về các điểm đến tâm linh nội đô.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu văn hóa Hà Nội: Phần phân tích sự chuyển dịch từ Đạo quán sang chùa trong hệ thống "Thăng Long tứ quán" và các số liệu khảo sát xã hội học về tập quán đi lễ chùa của cư dân đô thị là những dẫn chứng có giá trị học thuật tốt.
- Các công ty lữ hành: Cung cấp thông tin lịch sử, thời gian mở lễ hội (Bạch Mã: 12-13/2 âm lịch; Voi Phục: 9-10/2 âm lịch; Kim Liên: 15-16/3 âm lịch) và các giá trị kiến trúc nổi bật để xây dựng bài thuyết minh tour chuyên đề tìm hiểu kinh thành Thăng Long.
Câu hỏi thường gặp
1. Bốn ngôi đền thuộc Thăng Long Tứ Trấn trấn giữ những hướng nào và thờ phụng những vị thần nào?
Bốn ngôi đền trấn giữ bốn phương kinh thành gồm: Trấn Đông là đền Bạch Mã (phố Hàng Buồm) thờ thần Long Đỗ; Trấn Tây là đền Voi Phục (làng Thủ Lệ) thờ hoàng tử Linh Lang; Trấn Nam là đền Kim Liên (phường Phương Liên) thờ Cao Sơn Đại Vương; Trấn Bắc là đền Quán Thánh (đường Thanh Niên) thờ thần Huyền Thiên Trấn Vũ.
2. Pho tượng đồng đen tại đền Quán Thánh có kích thước và lai lịch đúc như thế nào?
Pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ được đúc bằng đồng đen vào năm Vĩnh Trị thứ 2 (1677) đời vua Lê Hy Tông, do nghệ nhân Vũ Công Chấn trực tiếp chỉ huy thực hiện theo ủy thác của chúa Trịnh Tạc và Trịnh Căn. Tượng có chiều cao 3,96m, chu vi 8m, nặng 4 tấn, tọa lạc trên tảng đá cẩm thạch cao 1,2m. Tượng có bàn tay trái bắt ấn thuyết pháp, tay phải chống kiếm quấn rắn đặt trên lưng rùa.
3. Những di vật cổ quý giá nhất được lưu giữ tại đền Kim Liên gồm những gì?
Di vật quan trọng nhất tại đền Kim Liên là tấm bia đá "Cao Sơn đại vương thần từ bi minh" do sử thần Lê Tung soạn vào năm 1510 thời vua Lê Tương Dực (kích thước cao 2,34m, rộng 1,57m, dày 0,22m) ghi lại sự tích thần Cao Sơn phù trợ nhà Lê dẹp loạn, cùng hệ thống 39 đạo sắc phong (trong đó có 26 đạo sắc thời Lê Trung Hưng, sớm nhất là năm 1620, và 13 đạo sắc thời Nguyễn).
4. Điểm bất cập lớn nhất trong công tác quản lý cụm di tích Thăng Long Tứ Trấn là gì?
Điểm bất cập lớn nhất được tác giả chỉ ra là cơ chế quản lý phân tán và chồng chéo giữa quá nhiều cơ quan: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Cục Di sản văn hóa), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội, Ban Quản lý di tích Hà Nội, Phòng Văn hóa và Thông tin của ba quận (Hoàn Kiếm, Ba Đình, Đống Đa), UBND các phường, Ban Quản lý từng đền, và sự tham gia của Công ty TNHH MTV Vườn thú Hà Nội (đối với đền Voi Phục). Sự đan xen này dẫn tới việc phân định trách nhiệm không rõ ràng trong quản lý và khai thác.
5. Lượng khách tham quan giữa các ngôi đền trong Tứ Trấn có sự phân bổ như thế nào?
Đền Quán Thánh đón lượng khách đông nhất với hơn 20.000 lượt khách/năm (và là đền duy nhất thu vé tham quan 10.000 đồng/lượt). Đền Voi Phục đón trung bình 10.000 đến 12.000 lượt khách/năm. Đền Kim Liên đón khoảng 10.000 lượt khách/năm, chủ yếu là nhân dân địa phương đi lễ. Đền Bạch Mã đón bình quân 900 đến 1.000 lượt khách/tháng, riêng giai đoạn cao điểm từ tháng 7 đến tháng 3 âm lịch năm sau đạt khoảng 2.000 lượt khách/tháng.
Kết luận
Khóa luận của sinh viên Nguyễn Thị Dung đã tổng hợp toàn diện cơ sở lý luận về du lịch tôn giáo tín ngưỡng và khảo cứu chi tiết các giá trị lịch sử, kiến trúc, mỹ thuật của cụm di tích Thăng Long Tứ Trấn tại Hà Nội. Tác giả đã phản ánh trung thực thực trạng khai thác du lịch, sự chênh lệch lượng khách và những khó khăn trong mô hình quản lý liên ngành đa đầu mối. Hệ thống giải pháp và kiến nghị được xây dựng cụ thể, bám sát thực tiễn hoạt động của từng điểm di tích nhằm hướng tới mục tiêu bảo tồn di sản bền vững gắn với phát triển du lịch thủ đô.