Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tôn giáo học (mã số 62.90.01) với đề tài "Phật giáo Hòa Hảo – Lịch sử và những vấn đề hiện nay" do nghiên cứu sinh Bùi Văn Hải thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2014), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Ngô Hữu Thảo và TS. Nguyễn Hoàng Sa.

+---------------------------------------------------------------------------------------+
| THÔNG TIN CHUNG VỀ CÔNG TRÌNH LUẬN ÁN                                                 |
+----------------------+----------------------------------------------------------------+
| Tên đề tài           | Phật giáo Hòa Hảo – Lịch sử và những vấn đề hiện nay           |
| Tác giả              | Bùi Văn Hải                                                    |
| Cơ sở đào tạo        | Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN     |
| Chuyên ngành / Mã số | Tôn giáo học / 62.90.01                                        |
| Người hướng dẫn      | 1. PGS.TS Ngô Hữu Thảo; 2. TS. Nguyễn Hoàng Sa                 |
| Năm bảo vệ           | 2014                                                           |
+----------------------+----------------------------------------------------------------+

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Phật giáo Hòa Hảo là một tôn giáo nội sinh hình thành năm 1939 tại tỉnh Châu Đốc (nay thuộc tỉnh An Giang), đáp ứng các nhu cầu tín ngưỡng, tâm lý của tầng lớp nông dân Nam Bộ. Trong tiến trình lịch sử trước và sau năm 1975, Phật giáo Hòa Hảo trải qua nhiều biến động chính trị - xã hội phức tạp trong mối quan hệ với cả chính quyền Sài Gòn và chính quyền cách mạng. Tôn giáo này từng bị xem là "tổ chức chính trị trá hình" và tồn tại suốt 24 năm (1975–1999) không có tư cách pháp nhân lẫn bộ máy tổ chức hành chính đạo, trước khi được Nhà nước chính thức công nhận tư cách pháp nhân vào năm 1999.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: dù đã có các công trình tiếp cận Phật giáo Hòa Hảo ở những góc độ nhất định, các luận giải về sự kết hợp giữa lịch sử chính trị, tôn giáo học và xã hội học vẫn chưa đạt được sự thỏa đáng. Các vấn đề lịch sử nhạy cảm (như sự kiện Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ "đi xa", vai trò của Đảng Dân xã, lực lượng vũ trang trong quá khứ, cơ sở thờ tự) và các mâu thuẫn đương đại (sự phân hóa giữa Ban Trị sự 2 cấp và các nhóm cực đoan) chưa được khảo sát thấu đáo trên cơ sở khoa học để phục vụ công tác tôn giáo của hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm sáng tỏ bối cảnh ra đời, các đặc điểm chủ yếu về giáo lý, giáo luật, lễ nghi, tổ chức của Phật giáo Hòa Hảo và những vấn đề đặt ra hiện nay trong mối quan hệ với các lĩnh vực của đời sống xã hội; từ đó đề xuất khuyến nghị khoa học cho Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị nhằm thực hiện chính sách tự do tôn giáo theo phương châm "tốt đời, đẹp đạo".
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (được đánh số theo văn bản):
    1. Làm rõ hoàn cảnh ra đời, nội dung cơ bản về giáo lý, giáo luật, lễ nghi, tổ chức của Phật giáo Hòa Hảo; mối quan hệ của Phật giáo Hòa Hảo đối với đời sống xã hội trong lịch sử; vai trò của Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ và quá trình hình thành, phát triển của tôn giáo này.
    2. Phân tích thực trạng ảnh hưởng của Phật giáo Hòa Hảo trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở Việt Nam hiện nay.
    3. Chỉ ra những vấn đề đặt ra của Phật giáo Hòa Hảo hiện nay và xây dựng các khuyến nghị từ phương diện công tác tôn giáo của hệ thống chính trị.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học

  • Các câu hỏi nghiên cứu:
    • Câu hỏi 1: Những vấn đề lịch sử của Phật giáo Hòa Hảo đã và đang tác động tới đời sống xã hội đương đại như thế nào?
    • Câu hỏi 2: Trong xã hội mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Phật giáo Hòa Hảo đã phát huy được yếu tố tích cực của mình ra sao?
    • Câu hỏi 3: Hệ thống chính trị các cấp và Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo cần làm gì và làm như thế nào để tôn giáo này thực hiện được phương châm tốt đời – đẹp đạo?
  • Các giả thuyết nghiên cứu:
    • Giả thuyết 1: Những sự kiện và đặc điểm của Phật giáo Hòa Hảo trong lịch sử cho đến nay đã mờ nhạt, rơi vào quên lãng, hoặc đã được giải quyết căn bản, vì thế chỉ nên đặt trọng tâm chú ý vào các vấn đề hôm nay của Phật giáo Hòa Hảo.
    • Giả thuyết 2: Trong một tồn tại xã hội mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, tín đồ và chức việc Phật giáo Hòa Hảo đương nhiên đã rũ bỏ được những vấn đề chính trị quá khứ vốn rất nặng nề, mà hòa đồng đoàn kết cùng các cộng đồng không tôn giáo và các tôn giáo khác trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
    • Giả thuyết 3: Những vấn đề tiêu biểu từ nhiều lĩnh vực của Phật giáo Hòa Hảo đặt ra hiện nay được giải quyết thành công, chủ yếu chỉ cần đòi hỏi đến nhân tố lãnh đạo, quản lý xã hội là Đảng và Nhà nước, còn với Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo là không đáng kể, không mấy quan trọng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các chức việc trong Ban Trị sự Phật giáo Hòa Hảo 2 cấp (cấp toàn đạo và cấp cơ sở) cùng toàn thể khối quần chúng tín đồ Phật giáo Hòa Hảo.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long (tập trung khảo sát tại 14 tỉnh, thành phố).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát tiến trình lịch sử từ năm 1939 (thời điểm khai đạo) đến năm 2013.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu đi trước thành hai nhóm chính:

+---------------------------------------------------------------------------------------+
| HỆ THỐNG CÁC TÀI LIỆU VÀ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TIÊU BIỂU TRONG LUẬN ÁN               |
+-------------------+-------------------------------------------------------------------+
| Nhóm lý luận chung| - Trần Văn Giàu (1996), Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam... |
| về tôn giáo       | - Lê Hữu Nghĩa & Nguyễn Đức Lữ (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh...   |
| và chính sách     | - Đặng Nghiêm Vạn (2005), Lý luận về tôn giáo và tình hình...     |
|                   | - Đỗ Quang Hưng (2005), Vấn đề tôn giáo trong cách mạng VN...     |
|                   | - Ngô Hữu Thảo (2005, 2006, 2012); Nguyễn Đức Lữ (2006, 2011)   |
|                   | - Trương Hải Cường (2012), Một số vấn đề về tín ngưỡng, tôn giáo |
+-------------------+-------------------------------------------------------------------+
| Nhóm chuyên khảo  | - Đào Hưng & Vương Kim (1953), Đức Phật Thầy Tây An               |
| về Phật giáo      | - Vương Kim (1960: Đời hạ ngươn; 1973: Đời thượng ngươn)          |
| Hòa Hảo           | - Huỳnh Phú Sổ (1966), Sấm giảng thi văn giáo lý                  |
|                   | - Nguyễn Văn Hầu (1969: Muốn về cõi Phật; 1971: Nhận thức PGHH)   |
|                   | - Nguyễn Văn Hầu (1973), Năm cuộc đối thoại                       |
|                   | - Lê Thành Thảo (1974), Sinh hoạt PGHH trong cộng đồng quốc gia   |
|                   | - Huỳnh Hữu Chiến, Hoạt động lợi dụng PGHH của địch... (1975-1990)|
|                   | - Trương Như Vượng (1997), Đạo Hòa Hảo - Vấn đề an ninh trật tự   |
|                   | - Ban Tôn giáo Chính phủ - Vụ 3 (2001), Báo cáo tổng quan đề tài |
+-------------------+-------------------------------------------------------------------+

Thành tựu từ các công trình đi trước

Các công trình tiền bối đã chứng minh điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa Nam Bộ đầu thế kỷ XX (chính sách khai thác thuộc địa, bần cùng hóa nông dân) là mảnh đất nảy sinh Phật giáo Hòa Hảo; xác định cội nguồn tư tưởng trực tiếp của đạo bắt nguồn từ Bửu Sơn Kỳ Hương và Tứ Ân Hiếu Nghĩa, kết hợp phái Thiền Lâm Tế; phân tích vai trò của Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ và sự hình thành lực lượng vũ trang (Hội bảo an, các chi đội bộ đội) cùng bộ máy trị sự trong lịch sử.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

  1. Giải quyết sự thiếu thống nhất trong nhận thức của hệ thống chính trị về biến cố lịch sử gắn với việc Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ "đi xa" năm 1947, hướng đến việc khép lại quá khứ.
  2. Xóa bỏ định kiến kéo dài cho rằng Phật giáo Hòa Hảo chỉ là "tổ chức chính trị trá hình", khắc phục tâm lý mặc cảm của tín đồ sau 24 năm đạo không có tư cách pháp nhân.
  3. Phân tích bản chất của những bất đồng giữa Ban Trị sự 2 cấp đương nhiệm với các nhóm chống đối cực đoan (điển hình như nhóm Lê Quang Liêm).
  4. Xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa việc phát triển kinh tế, nâng cao dân trí, củng cố hệ thống chính trị cơ sở với việc phát huy đạo đức, từ thiện của Phật giáo Hòa Hảo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng bốn trụ cột lý thuyết chuyên ngành:

  1. Quan điểm Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo: Tiếp cận Phật giáo Hòa Hảo dưới góc độ vừa là một hình thái ý thức xã hội, vừa là một thực thể xã hội vận động theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
  2. Lý thuyết khoa học lịch sử: Sử dụng nguyên tắc lịch sử - logic nhằm phát hiện quy luật xuyên suốt chi phối hành vi tôn giáo của tín đồ từ quá khứ đến hiện tại.
  3. Lý thuyết tôn giáo học, xã hội học tôn giáo và hệ thống - cấu trúc: Phân tích sự tác động qua lại giữa các yếu tố cấu thành tôn giáo (quan niệm, thể nghiệm, hành vi, tổ chức) với đời sống xã hội Nam Bộ.
  4. Lý thuyết nhân học tôn giáo, văn hóa học và chính trị học: Luận giải mối quan hệ hai chiều giữa nhu cầu của xã hội, thể chế chính trị đối với tín đồ, chức việc và ngược lại.

Khái niệm và thuật ngữ then chốt

  • Đạo Hòa Hảo / Phật giáo Hòa Hảo: Tên gọi bắt nguồn từ địa danh làng Hòa Hảo (nơi sinh của Giáo chủ và là nơi khai đạo) kết hợp với căn chỉ nhà Phật. Thuật ngữ còn hàm nghĩa tư tưởng biểu trưng về một xã hội đại đồng, hòa hiệp.
  • Chức việc Phật giáo Hòa Hảo: Đạo quy định tín đồ tu tại gia, không có hàng ngũ chức sắc xuất gia (tăng ni) hay giáo phẩm trung gian. Những người tham gia quản lý đạo trong Ban Trị sự 2 cấp theo quy định pháp luật được gọi là "chức việc" (thời điểm nghiên cứu có 2.502 người).
  • Thờ tự chung: Đạo không chủ trương xây chùa chiền rộng khắp, cơ sở thờ tự chung chỉ là nơi tưởng niệm lịch sử tự nguyện của tín đồ, gồm Tổ đình Đức Giáo chủ và chùa An Hòa Tự (cùng một số chùa rải rác).
  • Tiêu chí tôn giáo hợp pháp tại Việt Nam (theo Ban Tôn giáo Chính phủ, 2001): Gồm 7 tiêu chí: có tín đồ tự nguyện, có người hướng dẫn việc đạo, có tôn chỉ không trái pháp luật, có giáo lý giáo luật phù hợp, có cơ sở thờ tự an toàn/vệ sinh, không hoạt động mê tín dị đoan tác hại, đăng ký hoạt động với cơ quan nhà nước.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
  • Phương pháp chuyên ngành và liên ngành: Phương pháp lịch sử - logic, phân tích biểu tượng tôn giáo, so sánh lịch đại - đồng đại, phân loại loại hình hóa.
  • Phương pháp nghiên cứu định tính và điền dã: Quan sát tham dự, phỏng vấn sâu các chức việc Ban Trị sự và chuyên viên làm công tác tôn giáo.
  • Khảo sát xã hội học: Tiến hành thu thập số liệu điều tra tại các ban trị sự ở 14 tỉnh, thành phố thuộc Đồng bằng sông Cửu Long với tổng quy mô mẫu tiếp cận gồm 37.598 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo.

Nguồn tư liệu sử dụng

  • Tư liệu giáo lý gốc của Huỳnh Phú Sổ: 6 quyển Sấm giảng viết từ 1939 đến 1945 và bản in "Sấm giảng giáo lý Phật giáo Hòa Hảo" tái bản lần thứ 5 của NXB Tôn giáo (Hà Nội, 2004).
  • Tư liệu điền dã: Kết quả khảo sát thực tế tại 14 tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Cửu Long (các Phụ lục 7 đến 12).
  • Văn bản chính sách, pháp luật: Nghị quyết 24/BCT (1990), Nghị quyết TW 5 khóa VIII (1998), Thông báo 165-TB/TW (1998), Quyết định 21/1999/QĐ-TGCP, Nghị quyết 25/TW khóa IX (2003), Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo số 21/2004/PL-UBTVQH11, Nghị định 22/2005/NĐ-CP.

Nội dung chính theo từng chương

+---------------------------------------------------------------------------------------+
| CẤU TRÚC CHƯƠNG HỒI CỦA LUẬN ÁN (4 CHƯƠNG, 9 TIẾT)                                    |
+-----------+---------------------------------------------------------------------------+
| Chương 1  | TỔNG QUAN                                                                 |
|           | (Nguồn tư liệu, điểm luận công trình, định hướng nghiên cứu, thuật ngữ)   |
+-----------+---------------------------------------------------------------------------+
| Chương 2  | NHỮNG THỜI KỲ RA ĐỜI, PHÁT TRIỂN VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO|
|           | (Bối cảnh Nam Bộ, Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, các thời kỳ, giáo lý - tổ chức)  |
+-----------+---------------------------------------------------------------------------+
| Chương 3  | ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO HIỆN NAY TỪ CÁC PHƯƠNG DIỆN TÔN GIÁO      |
|           | VÀ XÃ HỘI (Tôn giáo, Kinh tế, Văn hóa - Xã hội, Đạo đức, Chính trị)       |
+-----------+---------------------------------------------------------------------------+
| Chương 4  | PHẬT GIÁO HÒA HẢO - XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA, KHUYẾN NGHỊ |
|           | (Xu hướng biến đổi, các vấn đề tồn tại, giải pháp chính sách)             |
+-----------+---------------------------------------------------------------------------+

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa nguồn tài liệu nghiên cứu, điểm luận tình hình học thuật và chuẩn hóa các khái niệm công cụ. Tác giả tiến hành giải phẫu chi tiết cấu trúc văn bản của 6 quyển sấm giảng gốc do Huỳnh Phú Sổ trước tác:

+---------------------------------------------------------------------------------------------+
| HỆ THỐNG VĂN BẢN KINH ĐIỂN GỐC CỦA GIÁO CHỦ HUỲNH PHÚ SỔ (1939 - 1945)                      |
+-------+---------------------------------------+------+-----------------+--------------------+
| Quyển | Tên tác phẩm                          | Năm  | Thể loại        | Dung lượng         |
+-------+---------------------------------------+------+-----------------+--------------------+
| 1     | Sấm giảng khuyên người đời tu niệm    | 1939 | Thơ lục bát     | 219 câu            |
| 2     | Kệ dân của người khùng                | 1939 | Thơ thất ngôn   | 846 câu (bản cũ)   |
|       |                                       |      |                 | 476 câu (bản 2004) |
| 3     | Sấm giảng                             | 1939 | Thơ lục bát     | 612 câu            |
| 4     | Giác mê tâm kệ                        | 1939 | Thơ thất ngôn   | 846 câu            |
| 5     | Khuyến thiện                          | 1941 | Thơ thất ngôn   | 756 câu (bản cũ)   |
|       |                                       |      |                 | 776 câu (bản 2004) |
| 6     | Cách tu hiền và sự ăn ở của bổn đạo   | 1945 | Văn xuôi        | 35 trang, 6 phần   |
+-------+---------------------------------------+------+-----------------+--------------------+
  • Khảo cứu văn bản học: Tác giả chỉ ra sự khác biệt giữa bản gốc và bản in năm 2004 của Ban Trị sự Trung ương: Quyển 2 bản tái bản giảm 370 câu (từ 846 câu xuống 476 câu), Quyển 5 tăng 20 câu (từ 756 câu lên 776 câu), phản ánh việc lược bỏ và điều chỉnh nội dung cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội mới.
  • Cơ sở khái niệm: Luận án định vị bản chất của thuật ngữ "chức việc" (toàn đạo có 2.502 chức việc trong Ban Trị sự 2 cấp), khẳng định việc đạo không có tăng lữ xuất gia là đặc thù mô hình "cư sĩ tại gia". Cơ sở thờ tự công cộng (Tổ đình, An Hòa Tự) là nơi sinh hoạt kỷ niệm lịch sử chứ không mang tính cưỡng chế giáo luật.

Chương 2: Những thời kỳ ra đời, phát triển và nội dung cơ bản của Phật giáo Hòa Hảo

Chương này tái hiện tiến trình lịch sử và cấu trúc giáo thuyết:

  • Bối cảnh lịch sử - xã hội: Thực dân Pháp tăng cường bóc lột tại Nam Kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất: thuế thân tăng từ 4,5 đồng (năm 1930) lên 6,7 đồng (năm 1938); cướp đoạt 503.300 ha ruộng đất (chiếm 2/3 tổng diện tích canh tác toàn vùng). Sự bần cùng hóa cùng sự suy đồi của Phật giáo truyền thống và tính chất phức tạp của Đạo Cao Đài đã tạo ra khoảng trống tâm linh để Phật giáo Hòa Hảo ra đời.
  • Tiểu sử Huỳnh Phú Sổ và sự kiện khai đạo: Huỳnh Phú Sổ sinh ngày 15/01/1920 (25/11 năm Kỷ Mão) tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, là con trai thứ tư của ông Huỳnh Công Bộ và bà Lê Thị Nhậm. Sau thời gian chữa bệnh tại vùng núi Thất Sơn, nghiên cứu sấm truyền và giáo lý Bửu Sơn Kỳ Hương của Đoàn Minh Huyên, ngày 18/5 năm Kỷ Mão (tức ngày 04/7/1939), ông chính thức lập đạo tại gia khi 20 tuổi.
  • Biến cố chính trị - quân sự:
    • Sau khởi nghĩa Nam Kỳ (1940), tín đồ tăng lên hàng trăm ngàn người. Pháp quản thúc Huỳnh Phú Sổ tại Sa Đéc, Chợ Quán, Bạc Liêu. Năm 1942, tình báo Nhật can thiệp đưa ông về Sài Gòn.
    • Huỳnh Phú Sổ tham gia Mặt trận Quốc gia Thống nhất, tham gia Ủy ban Hành chính Kháng chiến Nam Bộ sau Cách mạng Tháng Tám.
    • Ngày 21/9/1946, thành lập Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng (Đảng Dân xã) do Huỳnh Phú Sổ làm Chủ tịch, Nguyễn Bảo Toàn làm Tổng thư ký.
    • Ngày 18/12/1946, lập lực lượng vũ trang "Nghĩa quân cách mạng vệ quốc liên đội Nguyễn Trung Trực" (bộ đội Nguyễn Trung Trực) gồm 7 chi đội.
  • Nội dung giáo lý, giáo luật, lễ nghi:
    • Giáo lý: Tôn chỉ "Học Phật tu Nhân", tu hành tại gia, hướng dẫn tín đồ thực hiện "Tứ đại trọng ân" (Ân tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân Tam bảo, Ân đồng bào và nhân loại). Trong thời kỳ ngoại xâm, Ân đất nước được đặt lên hàng đầu ("Thấy dân thấy nước nghĩ mà đau / Quyết dứt cà sa khoác chiến bào").
    • Giáo luật và lễ nghi: Triệt để giản lược nghi thức; không dùng chuông, mõ, không đốt vàng mã; cúng lạy đơn giản với bàn thờ Phật (trần dĩ - tấm vải nâu biểu thị sự hòa hợp), bàn thờ tổ tiên và bàn Thông Thiên ngoài trời.

Chương 3: Ảnh hưởng của Phật giáo Hòa Hảo hiện nay từ các phương diện tôn giáo và xã hội

Chương 3 phân tích thực trạng hoạt động của tôn giáo này trong giai đoạn hiện nay:

  • Phương diện tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo phân bố chủ yếu tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ (An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Hậu Giang, Bến Tre, Kiên Giang). Tổ chức Giáo hội vận hành theo mô hình 2 cấp: Ban Trị sự Trung ương và Ban Trị sự cơ sở (xã, phường, thị trấn). Tín đồ duy trì nhu cầu thực hành nghi lễ tại gia đình và hành hương tự nguyện về các ngày lễ trọng (ngày 18/5 âm lịch - khai đạo, ngày 25/11 âm lịch - đản sinh Đức Giáo chủ).
  • Phương diện kinh tế, văn hóa, xã hội:
    • Kinh tế: Đa số tín đồ là nông dân, tích cực áp dụng sản xuất nông nghiệp, xóa đói giảm nghèo.
    • Xã hội - Từ thiện: Tín đồ thể hiện tinh thần tương thân tương ái thông qua các hoạt động xã hội hóa: thành lập các đội xe chuyển viện miễn phí, xây dựng cầu nông thôn, làm đường giao thông, mở các bếp ăn từ thiện phục vụ bệnh viện và trường học, cung cấp thuốc nam miễn phí.
    • Đạo đức: Giáo lý khuyên răn "làm lành lánh dữ", giữ gìn thuần phong mỹ tục, góp phần giữ vững trật tự xã hội tại các ấp, xã vùng sâu.
  • Phương diện chính trị: Khối đại đoàn kết giữa tín đồ với chính quyền địa phương từng bước được củng cố. Tuy nhiên, vẫn tồn tại sự lôi kéo, kích động từ các phần tử cực đoan ở hải ngoại kết hợp với các cá nhân chống đối trong nước nhằm khoét sâu định kiến lịch sử.

Chương 4: Phật giáo Hòa Hảo - Xu hướng biến đổi và những vấn đề đặt ra, khuyến nghị

Chương 4 tổng kết quy luật biến đổi và đề xuất giải pháp:

  • Xu hướng biến đổi: Sự chuyển dịch trong cơ cấu thế hệ tín đồ; xu hướng thế tục hóa và thị trường hóa ảnh hưởng đến lối sống thanh niên có đạo; sự gia tăng nhu cầu thể chế hóa và chuẩn hóa các hoạt động đạo sự.
  • Những vấn đề đặt ra:
    1. Nhận thức của một bộ phận cán bộ về Phật giáo Hòa Hảo còn định kiến, chưa nhìn nhận đầy đủ tính chất của một tôn giáo nội sinh.
    2. Vấn đề giải quyết thỏa đáng, khép lại quá khứ đối với sự kiện Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ.
    3. Hoạt động chống đối của nhóm cực đoan cũ (nhóm Lê Quang Liêm) phủ nhận vai trò của Ban Trị sự 2 cấp được Nhà nước công nhận.
    4. Mức sống và trình độ dân trí của tín đồ ở nhiều vùng nông thôn còn thấp.
  • Hệ thống khuyến nghị:
    • Về tư tưởng, nhận thức: Thống nhất quan điểm trong toàn bộ hệ thống chính trị về bản chất tôn giáo thuần túy của Phật giáo Hòa Hảo, tôn trọng nhu cầu tín ngưỡng chính đáng.
    • Về tổ chức, cán bộ: Tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ chức việc Ban Trị sự 2 cấp; xây dựng lực lượng cốt cán phong trào từ các tín đồ tiêu biểu; đào tạo cán bộ chuyên trách công tác tôn giáo am hiểu văn hóa Nam Bộ.
    • Về kinh tế - xã hội: Đẩy mạnh các chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, nâng cao dân trí, phát triển an sinh xã hội tại vùng có đông đồng bào theo đạo; quản lý và định hướng các mô hình từ thiện xã hội hoạt động đúng quy định pháp luật.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận giải một cách hệ thống lịch sử hình thành và phát triển của Phật giáo Hòa Hảo từ góc độ tôn giáo học Mác-xít kết hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành.
  • Làm rõ tính chất tôn giáo nội sinh của Phật giáo Hòa Hảo: một biến thể của Phật giáo mang đậm sắc thái văn hóa Nam Bộ, lấy phương châm "Học Phật tu Nhân", tu hành tại gia làm cốt lõi giáo thuyết.
  • Cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá khách quan về mối quan hệ giữa yếu tố chính trị và yếu tố tôn giáo trong lịch sử Phật giáo Hòa Hảo (giai đoạn 1939–1975).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đánh giá thực trạng hoạt động của Ban Trị sự Phật giáo Hòa Hảo 2 cấp và tâm tư, nguyện vọng của hơn 3,7 vạn tín đồ qua khảo sát thực địa tại 14 tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan chuyên trách hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý nhà nước đối với Phật giáo Hòa Hảo.
  • Đề xuất các phương thức vận động quần chúng tín đồ nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vô hiệu hóa các luận điệu lợi dụng tôn giáo để chia rẽ chính trị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát thực địa tại 14 tỉnh, thành phố thuộc địa bàn Đồng bằng sông Cửu Long với mốc thời gian kết thúc khảo sát năm 2013. Nguồn tài liệu lưu trữ về các hoạt động quân sự phức tạp của các chi đội Hòa Hảo giai đoạn 1945–1954 chưa được khai thác toàn diện do tính phân tán của tư liệu lịch sử.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu sự biến đổi tâm lý, hành vi tôn giáo của tầng lớp thanh niên tín đồ Phật giáo Hòa Hảo trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và di cư lao động.
    • Khảo sát so sánh mô hình tổ chức và phương thức hành đạo của Phật giáo Hòa Hảo với các tôn giáo nội sinh khác tại Nam Bộ như Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Cao Đài.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp nguồn tài liệu tra cứu thực chứng về lịch sử đạo, thực trạng tổ chức Ban Trị sự 2 cấp và các vấn đề an ninh - xã hội phục vụ công tác tôn giáo của Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Dân vận, Mặt trận Tổ quốc các cấp.
  • Đối với công tác nghiên cứu và giảng dạy: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các ngành Tôn giáo học, Lịch sử Việt Nam, Triết học, Xã hội học tôn giáo, Chính trị học tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam và hệ thống các trường đại học, trường chính trị địa phương.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Khảo cứu văn bản học đối với 6 quyển Sấm giảng của Huỳnh Phú Sổ (Chương 1) và hệ thống dữ liệu khảo sát điền dã thực tế tại 14 tỉnh thành Đồng bằng sông Cửu Long (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Phật giáo Hòa Hảo được sáng lập vào thời gian nào, tại đâu và do ai đứng đầu?

Phật giáo Hòa Hảo được Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ (sinh ngày 15/01/1920) chính thức khai sáng vào ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (nhằm ngày 04/7/1939) tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc xã Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang).

2. Hệ thống giáo lý gốc của Huỳnh Phú Sổ gồm những văn bản kinh điển nào?

Hệ thống giáo lý gốc gồm 6 quyển Sấm giảng viết từ năm 1939 đến năm 1945:

  • Quyển 1: Sấm giảng khuyên người đời tu niệm (1939, 219 câu lục bát).
  • Quyển 2: Kệ dân của người khùng (1939, 846 câu thất ngôn; bản tái bản 2004 lược còn 476 câu).
  • Quyển 3: Sấm giảng (1939, 612 câu lục bát).
  • Quyển 4: Giác mê tâm kệ (1939, 846 câu thất ngôn).
  • Quyển 5: Khuyến thiện (1941, 756 câu thất ngôn; bản 2004 là 776 câu).
  • Quyển 6: Cách tu hiền và sự ăn ở của một người bổn đạo (1945, văn xuôi 35 trang).

3. Tại sao Phật giáo Hòa Hảo không có chức sắc xuất gia và cơ sở thờ tự quy mô?

Phật giáo Hòa Hảo chủ trương phương châm "Học Phật tu Nhân", toàn thể tín đồ thực hiện mô hình "cư sĩ tại gia", phụng đạo gắn liền với nghĩa vụ công dân. Đạo triệt để giản lược lễ nghi phiền toái, không khuyến khích xây dựng chùa chiền am cốc quy mô. Những người điều hành việc đạo trong Ban Trị sự 2 cấp được xác định là "chức việc" (2.502 người), không mang giáo phẩm trung gian.

4. Phật giáo Hòa Hảo được Nhà nước Việt Nam chính thức công nhận tư cách pháp nhân vào năm nào?

Sau thời gian dài không có bộ máy tổ chức (1975–1999), trên cơ sở Thông báo số 165-TB/TW ngày 04/9/1998 của Thường vụ Bộ Chính trị, Ban Tôn giáo Chính phủ đã ban hành Quyết định số 21/1999/QĐ-TGCP chấp thuận tổ chức và hoạt động của Ban Trị sự Phật giáo Hòa Hảo, chính thức công nhận tư cách pháp nhân vào năm 1999.

5. Tổ chức chính trị và lực lượng vũ trang do Huỳnh Phú Sổ thành lập năm 1946 có tên là gì?

Ngày 21/9/1946, Huỳnh Phú Sổ sáng lập Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng (Đảng Dân xã) và giữ chức Chủ tịch. Ngày 18/12/1946, ông thành lập lực lượng vũ trang riêng mang tên Nghĩa quân cách mạng vệ quốc liên đội Nguyễn Trung Trực (bộ đội Nguyễn Trung Trực) gồm 7 chi đội.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Phật giáo Hòa Hảo – Lịch sử và những vấn đề hiện nay" của tác giả Bùi Văn Hải là công trình chuyên khảo tôn giáo học nghiên cứu toàn diện về lịch sử ra đời, cấu trúc giáo thuyết và thực trạng xã hội của Phật giáo Hòa Hảo. Thông qua việc kết hợp cơ sở lý luận Mác-xít với nguồn tư liệu điền dã trên 3,7 vạn tín đồ tại Đồng bằng sông Cửu Long, tác giả đã làm rõ bản chất tôn giáo nội sinh mang tính nhập thế, giải tỏa những vướng mắc nhận thức lịch sử chính trị. Các luận điểm và hệ thống khuyến nghị trong luận án đóng góp cơ sở khoa học cho việc thực thi chính sách tôn giáo, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và định hướng phương châm "tốt đời, đẹp đạo" trong giai đoạn hiện nay.