phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án có kết cấu chính gồm 4 chƣơng, 9 tiết. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.1 TỔNG QUAN CÁC NGUỒN TƢ LIỆU 1.1 Các tác phẩm của Phật giáo Hòa Hảo viết về nội dung cơ bản của tôn giáo này Luận án của nghiên cứu sinh sử dụng nguồn tƣ liệu của Phật giáo Hoà Hảo từ năm 1939 đến trƣớc năm 2004, liên quan đến 6 quyển nhƣ sau: Quyển 1: “Sấm giảng khuyên người đời tu niệm”, thể thơ lục bát trƣờng thi có 219 câu, xuất bản năm 1939. Quyển này Huỳnh Phú Sổ nói rõ danh phận của mình trong quá trình chu du tiếp cận bá tánh: Kẻ ăn xin, lão đƣa đò, ngƣời bán cá, bán thuốc, hát rong để dễ bề thâm nhập quần chúng thuyết giảng kinh kệ và khuyên ngƣời tu niệm. Song tính đặc biệt của quyển này là viết về sự mở màn thời kỳ “hạ ngƣơn mạt pháp”, một thảm hoạ sắp tràn lan và việc phán đoán thời cuộc sắp diễn ra đúng sự thật, đƣợc thể hiện trong những vần thơ của Huỳnh Phú Sổ, qua đó thức tỉnh chúng sinh, bá tánh tìm đƣờng ngay, nẻo chính đi theo con đƣờng hƣớng thiện.
Quyển 2: “Kệ dân của người khùng”, thể thơ thất ngôn trƣờng thi, có 846 câu, xuất bản năm 1939. Nội dung quyển này tiếp tục cảnh báo họa chiến tranh diễn ra. Sinh linh đồ khổ, Huỳnh Phú Sổ nêu cụ thể thảm họa cho dân tộc Việt Nam; đánh giá đúng thảm cảnh xã hội đƣơng thời bấy giờ một cách đen tối cùng cực nhất trong lịch sử cận đại của dân tộc. Mục đích của Huỳnh Phú Sổ là gây ấn tƣợng thức tỉnh lƣơng dân tìm đƣờng đạo hạnh.
Quyển 3: “Sấm giảng”, thể thơ lục bát trƣờng thi, có 612 câu, xuất bản năm 1939. Nội dung chủ yếu của quyển này là tiếp tục khuyên chúng sinh tu hành và bài bác mê tín dị đoan. Thật không sai, nếu ở trên đời ai cũng tu tâm dƣỡng tánh, làm lành lánh dữ thì đâu có cảnh xâu xé lẫn nhau làm cho đầu rơi 7 máu đổ. Những từ luân lý, tổ tông, nhân nghĩa, lễ nghi, phong hóa, tứ ân đã bao hàm đủ việc đối nhân xử thế, đạo lý làm ngƣời của dân tộc ta.
Về phê phán mê tín dị đoan cũng đƣợc khẳng định khác biệt giữa chân đạo và tà đạo. Quyển 4: “Giác mê tâm kệ”, thể thơ thất ngôn trƣờng thi, có 846 câu, xuất bản năm 1939. Nội dung quyển này Huỳnh Phú Sổ khuyên dạy bổn đạo tu cho tròn đạo làm ngƣời để hƣớng cho tín đồ bƣớc lên bậc thang cao hơn trên con đƣờng tu học. Tu tâm là pháp môn thiền định rất cao trong giáo lý nhà Phật, ở đó tâm không còn vọng đọng, tránh đƣợc phiền não và có đƣợc những ngƣời tu hành tinh tấn, ngộ đạo.
Huỳnh Phú Sổ xây dựng từng bƣớc hoàn thiện một con ngƣời, dẫn đến ngƣỡng cửa Phật, đi đúng theo giáo lý chân truyền của Phật Thích Ca Mâu Ni. Quyển 5: “Khuyến thiện”, thể thơ thất ngôn trƣờng thi, có 756 câu, xuất bản năm 1941. Nội dung quyển này khuyên tín đồ làm việc thiện, tu tỉnh quy y phật pháp. Nếu xét về mặt logíc, quyển này thể hiện tính liên tục, kế thừa quyển 4 Giác mê tâm kệ, nhằm chân lý hoá triết lý Phật giáo.
Nó không phải là những điệp khúc trong các quyển trƣớc, mà tái khẳng định sự mầu nhiệm của đạo, đƣa con ngƣời đi đến giải thoát. Ngoài ra, Huỳnh Phú Sổ còn nhắc đến sự tích của Phật Thích Ca nhằm động viên tín đồ tu học tích cực. Quyển 6: Cách tu hiền và sự ăn ở của một người bổn đạo, quyển này Huỳnh Phú Sổ viết vào năm 1945, tại Sài Gòn, theo thể văn xuôi, có 35 trang (khổ giấy 15 x 20cm) đƣợc chia làm 06 phần, gồm: Một, những điều sơ lƣợc cần biết của kẻ tu hiền. Hai, luận về tam nghiệp.
Ba, luận về bát chánh. Bốn, cách thờ phƣợng hành lễ và sự ăn ở của một tín đồ Phật giáo Hoà Hảo. Năm, sự cúng lạy của một ngƣời cƣ sĩ tại gia. 8 Sáu, lời khuyên bổn đạo.
Nội dung nói về những điều sơ lƣợc cần biết của kẻ tu hiền, Huỳnh Phú Sổ nói đạo Phật từ xƣa đến nay luôn phân làm hai hạng ngƣời: hạng xuất gia và hạng tại gia. Hạng xuất gia: Gồm có các nhà sƣ hay những ni cô đã hoàn toàn ly khai với gia đình, quê hƣơng, bè bạn, dựa thân vào cửa thiền hoặc núi non am cốc, hàng ngày chỉ chuyên lo kinh kệ, trau luyện đức lành, trau giồi trí tuệ để giảng giải cho bá tánh thập phƣơng hƣớng thiện quy y phật pháp, không còn thiết nghĩ đến việc đời. Gia đình nhà cửa của nhà sƣ là cả thế gian, thân quyến nhà sƣ là khắp cả nhân loại đại đồng. Đó là hạng ngƣời dốc tu cho mau thành Phật quả, thoát kiếp luân hồi.
Hạng tại gia: Gồm tất cả đại chúng, tất cả thiện nam tín nữ chƣa đủ những điều kiện xuất gia, vì cảm thấy mình còn nặng nợ với non sông Tổ quốc, với gia đình, đồng bào, xã hội, nên chƣa thể làm nhƣ các nhà sƣ hoặc ni cô. Tuy vậy, họ luôn hoan nghênh, ca tụng lý tƣởng từ bi, bác ái, đại đồng của nhà Phật và luật nhân quả do Phật thuyết ra. Họ thờ phƣợng Đức Phật tại nhà, phát nguyện quy y, giữ gìn ít điều giới luật, hằng coi kinh sách, sửa tánh răn lòng, ủng hộ các sƣ. Nhƣ thế họ cũng lần lần lên con đƣờng giải thoát và đây là hạng ngƣời học Phật tu Nhân.
Theo đó cho thấy toàn thể trong Phật giáo Hòa Hảo thuộc hạng ngƣời tại gia cƣ sĩ, học Phật tu Nhân.2 Tài liệu - sấm giảng giáo lý Phật giáo Hoà Hảo của Huỳnh Phú Sổ, Ban Trị sự Trung ƣơng Phật giáo Hoà Hảo, Ban Phổ truyền giáo lý, tái bản lần thứ năm, nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội năm 2004. Tài liệu này gồm có: thay lời tựa, sứ mạng của đức Thầy, do chính tay Huỳnh Phú Sổ viết vào ngày 18/5/1942, tại Bạc Liêu, gồm 06 quyển: Nó tƣơng tự nhƣ 06 quyển tƣ liệu gốc, không có gì thay đổi. Nhƣng chỉ có quyển thứ nhì của tái bản lần thứ năm chênh lệch nhau 370 câu và quyển năm chênh 9 lệch nhau 20 câu (quyển thứ hai cũ có 846 câu, quyển mới chỉ có 476 câu và quyển thứ năm cũ 756 câu và quyển mới 776 câu). Giáo lý Phật giáo Hoà Hảo giữa cái cũ và cái mới chỉ chênh lệch nhau ở quyển hai và quyển năm, khi đã lƣợc bỏ một số câu trong hai quyển này.
Có lẽ Ban Trị sự Trung ƣơng giáo hội Phật giáo Hòa Hảo điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện mới. Những nội dung kệ giảng của Huỳnh Phú Sổ đã lý giải đƣợc những điều bức xúc trong đời sống xã hội, đáp ứng đƣợc nhu cầu tín ngƣỡng của tín đồ, đạo làm ngƣời trong đối nhân xử thế, bổn phận nghĩa vụ của công dân đối với quốc gia dân tộc. Nó cũng không chỉ hạn chế trong lĩnh vực tu thân; giáo lý của Huỳnh Phú Sổ đã góp phần làm sáng tỏ chân lý đạo Phật, phát huy công đức tu hành của các bậc tăng ni, giáo phẩm trên con đƣờng chấn hƣng Phật giáo, vun vén đạo mầu. Rõ ràng, tại đây nếu không có sức cảm hoá, thuyết phục thì không thể có đông đảo tín đồ từ nhiều tầng lớp, nhiều thành phần giai cấp trong xã hội tồn tại đến ngày nay, đƣợc Nhà nƣớc công nhận và cho phép sinh hoạt đạo sự.
Tư liệu điền dã [Xem Phụ lục: 7, 8, 9, 10, 11 và 12] Nghiên cứu sinh sƣu tầm những tƣ liệu qua quá trình khảo sát, sƣu tầm, điều tra, tại các ban trị sự, nơi có đông tín đồ Phật giáo Hòa Hảo ở 14 tỉnh, thành ở đồng bằng sông Cửu Long, với 37.598 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo. Các tƣ liệu loại này đã giúp cho nghiên cứu sinh tìm hiểu kỹ hơn lịch sử hình thành và mối quan hệ của Phật giáo Hòa Hảo với đời sống xã hội trƣớc đây và hiện nay còn chƣa đƣợc rõ. Các văn bản về quan điểm, chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, Nhà Nước Việt Nam liên quan đến Phật giáo Hòa Hảo Tạo ra sự thay đổi căn bản, mang tính tích cực cho các hoạt động tôn giáo ở Việt Nam phải kể đến Nghị quyết 24/BCT, ngày 16/10/1990, của Bộ Chính trị, Đảng Cộng Sản Việt Nam: Về tăng cường công tác tôn giáo trong 10 tình hình mới. Đồng thời với đó là các Văn kiện của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng, khóa VI (1990), Nghị quyết hội nghị lần thứ tám: Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội; Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Trung ƣơng 5, khóa VIII (1998), về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Đảng cộng sản Việt Nam, Chỉ thị số 37-CT/TW về công tác tôn giáo trong tình hình mới; Thông tƣ số 01/1999/TT-TGCP: v/v hướng dẫn thực hiện một số điều trong nghị định 26/1999/NĐ-CP của chính phủ về các hoạt động tôn giáo; Quyết định số: 17/2000/QĐ- TGCP của trƣởng Ban Tôn giáo chính phủ v/v sửa đổi, bổ sung một số điều tại thông tư 01/1999/TT-TGCP ngày 16/6/1999 của Ban Tôn giáo chính phủ về hoạt động tôn giáo; Nghị quyết 25/TW của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng lần bảy (2003), khoá IX: về công tác tôn giáo; Đảng Cộng Sản Việt Nam: Quyết định số 123 - QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng (2004): quy định một số điều về kết nạp đảng viên đối với người có đạo và đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo; Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội: Pháp lệnh tín ngƣỡng, tôn giáo, số 21/2004/PL-UBTVQH11, ngày 29-6-2004; Nghị định số 22/2005/NĐ-CP: hướng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh tôn giáo; Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006), văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X – Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội; Ban Tôn giáo chính phủ (2008), tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo, Nxb tôn giáo, Hà Nội; Ban Tôn giáo chính phủ (2010): tài liệu hỏi - đáp pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, Nxb tôn giáo, Hà Nội; Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011), văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI - Nxb chính trị quốc gia Hà Nội.