Phật Lịch : 2545 - 2001 ***** LUẬN BẢO VƯƠNG TAM MUỘI NIỆM PHẬT TRỰC CHỈ Sa-Môn Diệu-Hiệp soạn bằng Hán văn Minh Chánh Việt dịch Lời Giới Thiệu của HT. Thích Đức Niệm Ph ật giáo đến Việt-Nam và chan hòa với dân tộc như nước với sữa. Trải dài suốt hơn 2000 năm lịch sử, tư tưởng Phật giáo đã thấm sâu vào tâm huyết cốt tủy của người dân Việt, từ suy tư cho đến ngôn ngữ, nếp sống phong tục v. khía cạnh nào cũng bàng bạc mang chất liệu Phật giáo.
Do đó có thể nói Phật giáo nằm trong lòng dân tộc, ươp thấm sâu đậm tâm hồn người Việt và đã trở thành truyền thống văn hóa tín ngưỡng dân tộc. L ịch sử Việt-Nam đã chứng minh dân tộc Việt và Phật giáo, trải qua bao cuộc thăng trầm, lúc nào cũng gắn bó chung vai cùng nhau đánh đuổi ngoại xâm, bảo vệ non sông xây dựng đất nước, luôn luôn trong mọi hoàn cảnh hiện diện bên nhau, chia vui xẻ buồn. Nguồn sống của đạo Phật vô tận, đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt bền dai, tô đắp đất nước Việt-Nam, tạo nên những bậc anh hùng yêu nước thương nòi như: Trưng Trắc, Trưng Nhị, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Đại Hành, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Toản, Trần Nhân Tôn, Lê Lợi, Nguyễn Trải v. đồng thời không ngừng cung ứng cho dân tộc Việt các tinh hoa phật chất để xây nền văn hóa và niềm tin vững bền.
Cho dù đất nước trải qua mấy độ ngoại xâm nội loạn và thiểu số người vong bản bỏ khối dân tộc tin theo đạo Tây, quay lưng với đại khối dân tộc, từ chối niềm tin truyền thống ngàn đời của tổ tiên. Họ vứt bỏ kỷ cương của tổ quốc, từ chối tinh thần yêu nước thương nòi, khinh chê phụng thờ tổ tiên, hiếu kính cha mẹ. Họ cũng chẳng cần để tâm đến tinh thần đoàn kết dân tộc, phụng sự tổ quốc, nghĩa đồng bào. Họ đã từng hô hào “Thà mất nước, không thà mất Chúa”.
Tuy nghi ệp dân vận nước liên hồi bất hạnh, đạo đức phong hóa suy vi, nhưng người hiền trong thiên hạ có tâm chí ưu thời mẫn thế nhìn về tương lai dân tộc tìm phương bảo vệ đất nước, phục hưng văn hóa đạo đức thì thời nào cũng có. Do đó kinh sách Phật giáo là một bộ phận trong đại thể văn hóa dân tộc vẫn được dịch thuật thành Việt văn, tuy chỉ bằng vào khả năng phương tiện hữu hạn với sức cố gắng cá nhân, chẳng khác như sao trời trong đêm trăng. Đành cam phận trong tình trạng nầy, lý do chính là các vị lãnh đạo quốc gia có lẽ không ý thức được tầm quan trọng của tạng kinh Việt ngữ đối với sự hướng dẫn quần chúng trong tinh thần Bi Trí Dũng của Phật giáo và cũng không ý thức nổi giáo lý đạo Phật có giàu khả năng bổ sung tô đắp cho nền văn hóa nước nhà phong phú tốt đẹp hơn lên nên họ không để tâm giúp đỡ công tác dịch thuật kinh Phật. Nhìn l ại với các dân tộc láng giềng, thì dân tộc ta gặp quá nhiều bất hạnh đắng cay.
Các dân tộc láng giềng được các nhà vua giúp đỡ phương tiện tổ chức dịch thuật, nên nước nào cũng có tạng kinh của nước đó. Còn Việt-Nam ta vốn xưng là 4000 năm văn hiến, và Phật giáo dính liền với sự dựng nước và giữ nước, làm phong phú văn hóa tư tưởng nước nhà đã sống trong lòng dân tộc trải đến hơn 2000 năm lịch sử. Vậy mà mãi đến ngày nay vẫn chưa có tạng kinh bằng Việt ngữ. Dẫu rằng ngày nay kinh sách Việt ngữ được dịch thuật khá nhiều, nhưng vẫn còn trong tình trạng phôi thai trong tiến trình hình thành Việt tạng, nếu so với tạng kinh Hán văn thì chẳng thấm vào đâu! Nghĩ rằng không ít người thao thức về việc hình thành đại tạng kinh Việt ngữ này.
Hi ến trọn tấm lòng nhiệt tình với đạo pháp, bằng khả năng thâm nhập giáo lý Phật đà của mình, nay cư sĩ Minh Chánh chuyển ngữ Hán văn thành Việt văn Luận Bảo Vương Tam Muội Niệm Phật Trực Chỉ để kết duyên Bồ Đề cùng bạn đạo bốn phương. Tỳ kheo Quê Mùa tôi có mấy lời mộc mạc tán dương công đức dịch thuật, đồng thời giới thiệu đến thiện hữu gần xa. Hoa Kỳ, Vu Lan Tân Tỵ, 2001 Tỳ Kheo Quê Mùa Thích Đức Niệm KHUYÊN TU: Tây ph ương quê cũ sớm quay về Hơi thở mạng người chớ trể mê ! Kiếp tạm có chừng nên quý tiếc Đừng cho lỡ bước lạc sơn khê. Nhất Nguyên Đại Sư MỤC LỤC 1/ L ời Giới Thiệu của Đại Sư Ngẫu Ích ………………… 6 2/ Lời Tựa ……………………………………………….
8 3/ Y, Chánh cõi Cực Lạc ………………………………. 9 4/ Phá vng hiển chơn …………………………………. 13 5/ Trách c nhận thức sai lầm …………………………. 19 6/ Phân tích tâm Phật quán huệ ………………………… 23 7/ Tôn tượng Phật tại đạo tràng ………………………… 31 8/ Phá thuyết chấp không …………………………….
36 9/ Khai th Thiền Tịnh không hai ………………………. 41 10/ Giải thích tâm chán Ta Bà vui về Cực Lạc …………. 49 12/ Khuyên giữ giới sát …………………………………. 52 13/ Khuyên giữ các giới ………………………………….
59 14/ Khuyên nỗ lực tinh tấn ………………………………. 61 15/ Chánh hạnh …………………………………………. 64 16/ Biện minh phương cách tu Tam muội ………………. 68 17/ Nghi thức tu Tam muội ……………………………….
76 18/ Tán thán đức hóa độ của Phật ………………………. 80 19/ Mười điều chướng ngại ………………………………. 85 20/ Nghĩa nhứt hạnh Tam muội …………………………. 89 21/ Hiển thị một nguyện đủ bốn nghĩa …………………… 96 22/ Giải thích niệm Phật tiêu tội ………………………….
101 23/ Lược thuật chư Tổ vãng sanh ………………………… 105 24/ Hồi hướng khuyên cầu vãng sanh ……………………. 108 25/ Phụ lục 1 - Niệm Phật phá vọng ……………………… 111 26/ Phụ lục 2 - Kệ Tứ liệu giản …………………………… 116 27/ Phụ lục 3 – Văn khuyến phát tâm Bồ đề ……………. 117 28/ Chú thích ……………………………………………… 125 Bảo Vương Tam Muội Niệm Phật Trực Chỉ (Tứ Minh Ngân Giang Sa-môn Diệu-Hiệp soạn) ********************* 1. Lời giới thiệu của Đại sư Ngẫu Ích Ni ệm Phật Tam Muội là phương tiện dễ dàng nhứt, nhiếp cả phàm Thánh, lợi độn gồm thâu, đệ nhứt liễu nghĩa, chí viên chí đốn, khi được nhứt niệm là thẳng vào Phật hải.
Ng ười đời chấp danh không hiểu lý, nghe những kẻ ngũ nghịch nhiều tội chỉ cần mười niệm cũng được vãng sanh nên cho là chuyên nhiếp những kẻ phàm liệt độn căn, đó là mê lầm diệu chỉ của Phật, hủy báng thâm kinh vậy. Tôi nh n thấy hành nhơn đời mạt pháp nhiều nghi, nhiều chướng khó ngộ khó khai với pháp môn thâm diệu, nếu không trước sự bỏ lý thì cũng chấp lý bỏ sự; đắm sự còn có cơ sanh vào hạ phẩm. chấp lý thì sẽ lạc vào ác thú không kiến, nếu đã rơi vào đó rồi thì thẳng đến hố sâu thăm thẳm khó có đường ra. Nếu không nhờ pháp nầy thì khó thoát vòng u tối.
Nay đạo sư Diệu-Hiệp thừa tiếp tông chỉ thành lập Liên-Xã, y theo Vĩnh-Minh Giác-Hổ xiễn dương Tam Muội Bảo Vương, cảnh quán sáng tỏ, mối nghi dứt sạch, nhập lý duy tâm, y chánh uyển nhiên, thấu rõ bản nguyên tự tánh, cảm ứng không sai, khiến người thấu hiểu nơi lý còn có sự, sự cũng không ngoài lý, người hạ căn nhơn sự ngộ được lý, mà sự giúp sức cho lý, nên dứt hết ý tưởng sai lầm từ trước. Trên hai tr m năm trở lại kinh điển ít oi gần như phế bỏ, phần giao thông lại trở ngại. Liên-Trì đại sư muốn tìm xem mà không thể được, nguyện lực ray rứt hoài, Hàn cư sĩ đến chỗ ngài Vạn-Dung thiền sư tìm thấy, liền vội mượn đọc, như gặp được đề hồ, buồn cho kiếp trược hưng phát, mừng thay đã tìm được bến bờ, nên vội tìm cách phổ biến, khắp nguyện những ai được nghe thấy đều tùy hỷ gieo nhân lành về cõi An-Lạc. Nếu đọc tụng tư duy rõ được pháp ấn Bảo vương, khi liễu ngộ liền thoát khỏi nỗi khổ trầm luân.
Thoảng không được gì cũng hy vọng có chút duyên lành vậy. Trí Húc đạo nhơn tự Ngẫu-Ích cẩn bút (Liên Tông Cửu tổ) 2. Lời tựa Ni ệm Phật Tam Muội gọi là Bảo Vương, là tối thượng tammuội trong tất cả tam-muội. Lúc đầu chỉ đề xướng ở Lô-Sơn sau mới lan truyền khắp nơi.
Qua nhiều đời những người tu tập được vãng sanh không phải ít, sử sách ghi lại sự chứng nghiệm rất nhiều. Xưa nay Thiền, Giáo không ai không tôn sùng, phàm thánh đều kính ngưỡng, chỉ những kẻ hạ liệt đời mạt pháp không cầu sanh về Tây phương Tịnhđộ mà rong ruổi theo ảo tưởng mông lung, cố thủ sở kiến chấp chặc trong lòng, thật luống công vô ích, dù có tu tập đi nữa cũng khó được hiệu quả. Do đó mới chọn lựa những kinh, sớ, sao của các tông nói về Tịnhđộ lưu bố khắp nơi. Không dám giữ trong lòng, mong được cảnh tỉnh mọi người nghe thấy, vì vậy mới lấy tên là Niệm Phật Trực Chỉ Bảo Vương Tam Muội.
Y, Chánh cõi Cực-Lạc Đấ ng đại trượng phu Chánh-biến-tri thành đẳng chánh giác, thánh chúa Thế-Tôn từ cung trời Đâu-suất ứng cơ giáng thần ở thế gian này, bốn mươi chín năm thuyết giáo hơn ba trăm hội, muốn chúng sanh đồng chứng đạo chơn thường, cuối hội Linh-sơn mới nói kinh Pháp-Hoa để khai thị chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật, theo hoài vọng xuất thế của đấng Từ-Tôn. Sự xuất thếđộ sanh không phải chỉ có đức Thích-Ca mà chư Như-Lai ba đời cũng đều như vậy. Trong s giáo hóa một đời của đức Thích-Ca theo cơ nghi tương cảm sanh khởi Phật duyên, nên pháp hết sức giản dị mà đạt nhiều kết quả thì không pháp môn nào hơn pháp môn cầu sanh Tịnhđộ. Pháp môn ni ệm Phật đầu tiên nhơn tỳ-kheo Pháp-Tạng trong vô lượng kiếp về trước làm đại Quốc-vương nhơn nghe đức Phật Thế- Tự-Tại-Vương thuyết pháp liền từ bỏ ngôi vua xuất gia thành Tỳ- kheo.
Đức Phật ấy lại rộng nói các cảnh thiện ác, tốt xấu những cõi nhơn thiên và sự trang nghiêm của hai trăm mười ức cõi nước Phật. Tỳ-kheo Pháp-Tạng nghe rồi liền đối trước đức Phật phát bốn mươi tám đại nguyện: Nguyện khi con thành Phật, trong nước con không có các chướng nạn như ba đường dữ, ba độc, tám nạn, tám khổ, chín não, mười triền v. Những người sanh vào nước con đều an trụ trong chánh định, đắc nhẫn, tâm giải thoát được thắng trí, mười niệm là được vãng sanh, nếu không được vậy thề không thành Chánh-giác. B ấy giờ đại địa chấn động, trời mưa diệu hoa, âm nhạc tự trổi, được Phật thọ ký, chứng quả Phật đến nay đã mười đại kiếp.
Nhơn trước phát nguyện thù thắng nên công đức thần thông quang minh hơn cả mười phương không ai sánh bằng, danh hiệu là Phật A- DiĐà.