Mở đầu cho phong trào chấn hưng Phật giáo tại Nam Bộ là sự xuất hiện của Hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học được thành lập và công nhận ngày 26 tháng 08 năm 1931. Hội đã cho xuất bản Tạp chí Từ Bi Am. Ngày 18 tháng 03 năm 1932, Hội Phật giáo liên hữu được thành lap va công nhận tại chùa Bình An, Long Xuyên. Năm 1933, Liên đoàn học xã được thành lập tại chùa Viễn Giác, Bến Tre bởi Hoà thượng Khánh Hoà cùng Huệ Quang, Khánh Anh, Pháp Hải, Viên Giác.
Ngày 11 tháng 06 năm 1934, Hội Phật giáo tương tế được thành lập tại chùa Thiên Phước, Sóc Trăng. Năm 1936, Hội lập Phật học trường và cho xuất bản tạp chí Bồ Đề. 17 Ngày 13 tháng 08 năm 1934, Hội Lưỡng Xuyên Phật học được thành lập tại chùa Long Phước, Trà Vinh. Năm 1935, Hội xuất bản tạp chí Duy tâm Phật học.
Ngày 19 tháng 10 năm 1934, Hội Thiên Thai Thiền Giáo Tông Liên Hữu được thành lập tại chùa Thiên Thai, Bà Rịa, do Hoà thượng Huệ Đăng khai sáng. Năm 1935, Hội cho xuất bản tạp chí Bát Nhã Âm. Năm 1934, Hội Phật học Cao Miên được thành lập tại chùa Thanh Quang. Năm 1938 xuất bản tạp chí Ánh sáng Phật pháp.
Năm 1934, Hội Tinh độ cư sĩ được thành lập tại chùa Hưng Long, Sai Gòn. Năm 1937 cho xuất bản tạp chí Pháp âm Phật học. Ngày 22 tháng 03 năm 1935, Hội Phước thiện nhà Phật được thành lập tại chùa Long Vân, Sài Gòn, do Hoà thượng Nguyễn Kim Môn khai sáng. Ngày 23 tháng 03 năm 1937, Hội Phật học kiêm tế được thành lập tại chùa Tam Bao, Rach Gia, Kiên Giang.
Năm 1938, Hội cho xuất bản tạp chí Tiến hoá. Sang giai đoạn những năm 1940 đến 1950, các tổ chức Phật học tại miền Nam gần như bị tan rã vào thời điểm năm 1945 và chỉ có một số tô chức được khôi phục, hoạt động trở lại sau năm 1945. Ngày 19 tháng 09 năm 1950, Hội Phật học Nam Việt được thành lập tại chùa Khánh Hưng, Sai Gòn. Năm 1951, Hội cho xuất bản tạp chí Từ Quang.
Ngày 05 tháng 06 năm 1951, Giáo hội Tăng gia Nam Việt được thành lập tại chùa Hưng Long, Chợ Lớn. Tổ Huệ Đăng (1873-1953)- người sáng lập Thiên Thai Thiền Giáo Tông Liên Hữu Hội Tổ Huệ Đăng là người khai sáng Thiên Thai Thiền Giáo Tông Liên Hữu Hội. Hoà thượng tên tục là Lê Quang Hoà, sinh năm Quý Dậu (1873), nhằm triều Nguyễn, niên hiệu Tự Đức thứ 26, tại làng An Dong, xã An Đông, 18 huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định (nay là thôn An Dõng, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Xuất thân trong gia đình Nho học nhưng chuộng đạo Phật.
Từ nhỏ, Ngài vừa học chữ Nho và võ nghệ, lại thường đến chùa và tìm hiểu về Phat học. Năm 17 tuổi, Ngài tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp, đứng trong hàng ngũ nghĩa quân Bình Định của Mai Xuân Thưởng, Bùi Điều, đồng thời tham gia kháng chiến suốt nhiều năm. Khi phong trào Cần Vương tan rã, thực dân Pháp truy sát những người tham gia, Ngài vào vùng Bà Rịa lánh nạn. Tại đây, Ngài lay nghé day hoc dé sinh song, tam khoác áo thầy đồ che mắt quan địch dé chờ cơ hội va tim đồng chí.
Năm 1897, Ngài xuống Gò Công dạy chữ Nho và đi khắp các tỉnh miền Đông, miền Tây rồi lại quay về Bà Rịa, ân mình nơi nhà người bạn cũ ở vùng Tam Phước. Năm 1900, Ngài tới chùa Long Hòa xuất gia và là đệ tử của Tổ Hải Hội - Chánh Niệm (1834 - 1905) trụ trì chùa, một năm sau được truyền giới Sa di. Năm 1901, Ngài đến chùa Thiên Thai Sơn Thạch tại Sông Cau, Phú Yên, tham học với Hòa thượng Trí Hải và Hòa thượng Sơn Nhân tức Tổ Tánh Không - Giác Ngộ, thầy của các Thiền sư Bảo Thanh, Bảo Tạng, Bao Chon. Sau 3 năm (1903), Ngài thông hiểu tam tạng kinh điển, trí tuệ uyên bác, sau đó trở về chùa Long Hoà, được Tổ Hải Hội truyền giới cụ túc, ban cho pháp danh là Thanh Kế, pháp hiệu Huệ Đăng.
Sau đó Ngài được cử làm trụ trì chùa Kiến Linh ở Hòa Long - Bà Rịa. Năm 1904, Ngài chuyên về trụ trì chùa Phước Linh, xã Tam Phước, Bà Rịa. Năm đó, Ngài đến Gia Định nhập trường hương ở chùa Giác Viên do Hòa thượng Minh Khiêm - Hoàng Ân làm chủ hương, Hòa thượng chùa Thị Nước làm pháp sư, được nhập chúng tu học và hạ lạp đầu tiên của Tổ Huệ Đăng là tại chùa Giác Viên do Tổ Hoàng Ân làm chủ hương. 19 Năm 1905, sau khi Hòa thượng Trí Hải viên tịch tại chùa Long Hoà, Ngài cùng huynh đệ về cư tang và lo xây dựng Bảo tháp.
An táng bổn sư xong, Ngài tìm vào rừng núi Dinh Cố thâm u, thanh vắng và tìm được một thạch động dé tịnh tu. Tổ Huệ Đăng có làm hai câu đối trước cửa hang đó bang chữ Hán như sau: “Tá Thạch vi tường, thục thức lão Tăng cùng đáo dé Dĩ phong tác phiến, thùy tri đại Đạo lạc vô cương” (Mượn đá làm tường ai biết lão Tăng nghèo vô kẻ, Lay gió làm quạt, ai biết đại Đạo vui vô cùng). Sau hai năm tỉnh tấn trì tụng kinh Pháp Hoa và lễ lạy sám hối tu thiền nghiêm mật, đạo phong của Tổ ngày cảng thâm sâu, nhiều người đã tìm đến Ngài để tham học và sung kính. Khoảng năm 1910, Tổ bắt đầu phát don đất nên dé xây dựng chùa Thiên Thai.
Năm 1908, trong trường Hương ở chùa núi Châu Viên do đệ tử của Thiền sư Hải Bình — Bao Tạng tổ chức, Ty kheo Huệ Đăng được tôn cử làm Yết ma, đồng thời là Pháp sư các giới đàn tại đây. Sau đó, Yết ma Huệ Đăng trở về trụ trì chùa Phước Linh ở Tam Phước (Bà Rịa). Năm 1913, Yết ma Huệ Đăng khai giới đàn và đồng thời Ngài được tăng chúng suy tôn làm Đường đầu Hoà thượng tại giới dan chùa Phước Linh. Năm 1915, Ngài được thỉnh về trụ trì chùa Bà Lang Lệ ở Cái Tàu Thượng (tinh Sa Déc) do Phật tử dâng cúng.
Tại đây, nhiều tin đồ, Phật tử đến xin quy y và thọ giới. Tổ hóa độ được nhiều đệ tử xuất gia và tại gia ở miền Tây Nam bộ. Ngài cũng thường xuyên được mời thỉnh làm Pháp sư, chứng minh và giảng pháp tại các giới đàn trong vùng, đồng thời vân du hoang hoá ở nhiều tinh Nam Bộ. 20 Năm 1918, Tổ Huệ Đăng được thỉnh làm Pháp sư trong trường Hương ở chùa Sắc tứ Quan Âmở tỉnh Cà Mau (do Hòa thượng Đào Bá Nhẫn làm chủ Hương).
Năm 1920, Tổ Huệ Đăng được tôn cử làm Hòa thượng chứng minh trong trường Hương ở chùa Phước Tường do Hòa thượng Tập Tu làm chủ Hương. Từ đó, Tổ được thỉnh làm Hòa thượng chứng minh cho nhiều trường Hương ở khắp các tỉnh Nam bộ. Sau một thời gian vân du hoằng hóa ở các tỉnh Nam bộ, Tổ Huệ Đăng cùng với một số đệ tử về ân tu ở hang Mai trên núi Dinh Cố (Bà Rịa) sông khắc khổ, ăn bắp thay cơm, thường ăn măng rừng và tương chao nhưng vẫn tinh tấn tham thiền và nhập định. Dân chúng địa phương di hái măng và tìm củ sâm trên núi Dinh Cố tình cờ gặp Tổ, họ đồn đãi nhau, rất nhiều Phật tử lên núi tham học với Ngài.
Lúc bấy giờ, Tri Phủ Xương nghe tin Phật tử tụ họp nhiều ở hang Mai, nên nghi ngờ Tổ Huệ Đăng tu luyện bùa chú (sai đậu thành binh) và âm mưu tô chức chống Pháp. Vì vậy, Tri Phủ Xương bắt buộc Tổ phải rời hang Mai, xuống núi. Năm 1924 - 1929, Tổ lại dẫn đồ chúng lên núi Dinh Có khai hoang rừng núi, lập vườn trồng cây ăn trái, tạo huê lợi dé nuôi chúng ở chùa Long Hòa. Sau năm năm vừa tu hành vừa làm lung cực nhọc gian khô, vườn vú sữa đã có trái, có đủ huê lợi để môn đồ no ấm tu học, Tổ lại làm các công việc Phật sự khác.
Cũng trong thời gian này, Tổ Huệ Đăng lo xây dựng chùa Thiên Thai ở gần Thạch động chân núi Dinh Có. Sau khi chùa Thiên Thai hoàn thành, năm 1929, Tổ lại đứng ra trùng tu và xây dựng lại Tổ đình Long Hòa, ấp An Thạnh, xã An Ngãi, huyện Long Điền đã bị hư nứt vì chùa đã được lập gần 200 năm (chùa xây dựng 1737). 21 Sau khi chùa Thiên Thai và chùa Long Hòa hoàn thành, Tổ chú tâm vào việc hoằng truyền Phật pháp. Danh đức của Tô ngày càng lan rộng, Phật tử từ khắp nơi đến quy y thọ giáo và tham học ngày càng đông.
Trong dịp giỗ Tổ Hải Hội - Chánh Niệm ở chùa Thiên Thai vào năm 1933, thấy Tổ đã 60 tuổi nên đồ chúng xin xây tháp Thiên Bửu (hay Cửu Liên Đài) để sau này dùng đến. Việc xây dựng tháp này Tổ Huệ Đăng giao toàn quyền điều hành cho ông Đỗ Phước Tâm (từ việc đốc công cho đến việc thu xuất tiền bạc). Trong thời gian 1923 — 1940, Tổ Huệ Đăng có liên hệ với các chí sĩ yêu nước, Tổ nhiều lần tiếp xúc với Cụ Nguyễn Sinh Sắc (thân phụ Chủ tịch Hồ Chi Minh). Trong Biên niên sử Phật giáo Gia Định - Sài Gòn - Tp.
Hồ Chí Minh có thông tin: “Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc thường lui tới chùa Hội Khánh (Thủ Dâu Một) và một số chùa khác: Thiên Thai (Bà Rịa), Từ Ân, Linh Sơn, Vĩnh Tràng (Mỹ Tho), Hội Thọ (Cái Bè), Tiên Linh (Bến Tre), Long Hưng (An Giang) dé dam đạo với các sư tăng” [35:74]. Lúc đó, thầy Minh Nguyệt theo hầu được nghe các cuộc đàm đạo đó. Trong các năm 1930 — 1940 Tổ Huệ Đăng cũng tích cực tham gia phong trào chắn hưng Phật giáo ở Nam kỳ. Năm 1935, hưởng ứng phong trào chan hưng Phật giáo ở Việt Nam, cùng chiều hướng Hòa thượng Khánh Hòa lập Hội Lưỡng Xuyên Phật học năm 1934, Hoà thượng Huệ Đăng cho thành lập “Thiên Thai Thiền Giáo Tông Liên Hữu Hội”, thường được gọi tắt là “Thiên Thai Thiền Giáo Tông” với mục đích chính là: Chấn Hưng Phật Giáo Việt Nam, trụ sở đặt tại chùa Thiên Thai.
Hội này xuất bản tạp chí “Bát nhã Âm” để hoăng truyền Phật pháp rộng khắp các tỉnh Nam bộ, tòa soạn đặt tại Tháp Thiên Bửu. Hòa thượng cũng mở trường gia giáo tại chùa Long Hòa đề đào tạo tăng tài. Hội phát triển mạnh, lúc bay giờ đã thành lập được 5 chi hội và hội viên lan rộng đến 21 tỉnh thành; Tăng Ni và thiện nam tín nữ đến cầu pháp cũng như quy y 22 thọ giới ngày càng đông. Hội cũng mở Đại giới đàn ở chùa Long Hòa và các chùa khác trong Hội dé độ Tăng Ni.