Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ tỉnh hải dương lãnh đạo xây dựng hâu phương tại chỗ trong kháng chiến toàn quốc chống thực dân pháp 1946 1954

Luận văn thạc sĩ USSH phân tích vai trò của Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong xây dựng hậu phương kháng chiến chống thực dân Pháp 1946-1954.

2015

116
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp mới của luận văn

0.7. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƢƠNG TRONG XÂY DỰNG HẬU PHƢƠNG TẠI CHỖ GIAI ĐOẠN 1946 - 1950

1.1. Những yếu tố có ảnh hưởng đến việc xây dựng hậu phương tại chỗ trên địa bàn tỉnh Hải Dương

1.2. Lãnh đạo xây dựng cơ sở chính trị trong vùng quân Pháp chiếm đóng, giữ vững vùng tự do (từ tháng 12/1946 đến tháng 11/1949)

1.3. Lãnh đạo nhân dân kiên trì bám trụ xây dựng chỗ đứng chân trong vùng quân Pháp chiếm đóng từ cuối năm 1949 đến cuối năm 1950

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƢƠNG LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG HẬU PHƢƠNG TẠI CHỖ GIAI ĐOẠN 1951 - 1954

2.1. Đặc điểm tình hình và yêu cầu mới của việc xây dựng hậu phương tại chỗ

2.2. Lãnh đạo đẩy mạnh chiến tranh du kích ở địch hậu, chủ động chống phá bình định, xây dựng khu du kích và căn cứ du kích từ đầu năm 1951 đến giữa năm 1952

2.3. Lãnh đạo củng cố và mở rộng khu du kích, căn cứ du kích, góp phần đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn từ giữa năm 1952 đến năm 1954

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ

3.1. Một số nhận xét

3.2. Một số kinh nghiệm lịch sử

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo xây dựng hậu phương tại chỗ trong kháng chiến chống Pháp

Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp từ 1946 đến 1954, việc xây dựng hậu phương tại chỗ đóng vai trò quan trọng trong chiến lược kháng chiến của Đảng bộ tỉnh Hải Dương. Hậu phương không chỉ là nơi cung cấp sức người, sức của mà còn là nguồn động viên tinh thần cho lực lượng chiến đấu. Đảng bộ tỉnh Hải Dương đã nhận thức rõ tầm quan trọng của việc xây dựng hậu phương vững chắc, từ đó triển khai nhiều biện pháp cụ thể nhằm củng cố lực lượng kháng chiến.

1.1. Vai trò của hậu phương trong kháng chiến chống Pháp

Hậu phương tại chỗ là yếu tố quyết định trong việc duy trì sức mạnh kháng chiến. Nó cung cấp nguồn lực cần thiết cho tiền tuyến, đồng thời tạo ra một môi trường thuận lợi cho các hoạt động kháng chiến. Đảng bộ tỉnh Hải Dương đã xác định rõ vai trò này và triển khai các chính sách phù hợp.

1.2. Tình hình kháng chiến tại Hải Dương giai đoạn 1946 1954

Hải Dương là một trong những tỉnh có vị trí chiến lược trong kháng chiến chống Pháp. Tình hình chiến sự tại đây diễn ra hết sức quyết liệt, với nhiều cuộc chiến đấu ác liệt giữa quân dân Hải Dương và thực dân Pháp. Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo nhân dân vượt qua khó khăn, xây dựng lực lượng kháng chiến vững mạnh.

II. Những thách thức trong việc xây dựng hậu phương tại chỗ tại Hải Dương

Việc xây dựng hậu phương tại chỗ tại Hải Dương không chỉ gặp phải những khó khăn về địa lý mà còn phải đối mặt với nhiều thách thức từ phía địch. Đặc biệt, sự chiếm đóng của quân Pháp đã tạo ra nhiều rào cản cho việc tổ chức và phát triển lực lượng kháng chiến.

2.1. Khó khăn về địa lý và điều kiện tự nhiên

Địa hình của Hải Dương có nhiều đặc điểm phức tạp, ảnh hưởng đến việc tổ chức lực lượng kháng chiến. Các khu vực bị chiếm đóng thường bị cô lập, gây khó khăn cho việc tiếp tế và hỗ trợ lẫn nhau giữa các lực lượng.

2.2. Sự đàn áp của thực dân Pháp

Thực dân Pháp đã thực hiện nhiều biện pháp đàn áp khốc liệt nhằm tiêu diệt lực lượng kháng chiến. Điều này đã tạo ra nhiều khó khăn cho việc xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ, đòi hỏi Đảng bộ tỉnh Hải Dương phải có những chiến lược linh hoạt và sáng tạo.

III. Phương pháp lãnh đạo xây dựng hậu phương tại chỗ hiệu quả

Đảng bộ tỉnh Hải Dương đã áp dụng nhiều phương pháp lãnh đạo khác nhau để xây dựng hậu phương tại chỗ. Những phương pháp này không chỉ giúp củng cố lực lượng kháng chiến mà còn tạo ra sự đoàn kết trong nhân dân.

3.1. Tổ chức các khu du kích và căn cứ kháng chiến

Việc tổ chức các khu du kích và căn cứ kháng chiến là một trong những phương pháp quan trọng mà Đảng bộ tỉnh Hải Dương đã thực hiện. Các khu du kích không chỉ là nơi trú ẩn mà còn là căn cứ để tổ chức các hoạt động kháng chiến.

3.2. Động viên tinh thần nhân dân tham gia kháng chiến

Đảng bộ đã triển khai nhiều hoạt động tuyên truyền, giáo dục nhằm động viên tinh thần nhân dân tham gia kháng chiến. Sự tham gia của nhân dân là yếu tố quyết định đến sự thành công của việc xây dựng hậu phương tại chỗ.

IV. Kết quả và ứng dụng thực tiễn từ việc xây dựng hậu phương tại chỗ

Việc xây dựng hậu phương tại chỗ tại Hải Dương đã mang lại nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống Pháp. Những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn này có thể áp dụng cho các giai đoạn sau trong lịch sử kháng chiến.

4.1. Những thành tựu đạt được trong xây dựng hậu phương

Hậu phương tại chỗ đã được xây dựng vững chắc, cung cấp nguồn lực cho tiền tuyến. Các khu du kích đã trở thành những điểm tựa quan trọng trong cuộc kháng chiến, giúp quân dân Hải Dương duy trì sức mạnh chiến đấu.

4.2. Bài học kinh nghiệm cho các giai đoạn sau

Những kinh nghiệm từ việc xây dựng hậu phương tại chỗ trong kháng chiến chống Pháp có thể được áp dụng cho các giai đoạn sau, đặc biệt là trong việc tổ chức lực lượng và phát huy sức mạnh của nhân dân trong các cuộc kháng chiến tiếp theo.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu về lãnh đạo xây dựng hậu phương tại chỗ trong kháng chiến chống Pháp tại Hải Dương không chỉ giúp làm rõ vai trò của Đảng bộ tỉnh mà còn cung cấp những bài học quý giá cho công tác xây dựng quốc phòng hiện nay. Tương lai, việc nghiên cứu này cần được tiếp tục để làm rõ hơn những vấn đề còn tồn tại.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu lịch sử

Nghiên cứu lịch sử về lãnh đạo xây dựng hậu phương tại chỗ giúp hiểu rõ hơn về quá trình kháng chiến của dân tộc. Những bài học từ quá khứ sẽ là nền tảng cho việc xây dựng tương lai.

5.2. Định hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của việc xây dựng hậu phương tại chỗ, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá cho công tác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ tỉnh hải dương lãnh đạo xây dựng hâu phương tại chỗ trong kháng chiến toàn quốc chống thực dân pháp 1946 1954

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƢƠNG TRONG XÂY DỰNG HẬU PHƢƠNG TẠI CHỖ GIAI ĐOẠN 1946 – 1950 1. Những yếu tố có ảnh hƣởng đến việc xây dựng hậu phƣơng tại chỗ trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng Điều kiện tự nhiên Hải Dương là một tỉnh lớn, diện tích tự nhiên là 1.; phía Đông giáp thành phố Hải Phòng; phía Tây giáp tỉnh Hưng Yên; phía Nam giáp tỉnh Thái Bình; phía Bắc giáp các tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh [33, tr. Nằm trải dài và án ngữ phía đông và phía bắc đồng bằng Bắc Bộ, từ Tả ngạn sông Hồng đến sông Lục đầu, nên Hải Dương là tỉnh chịu tác động mạnh của hệ thống sông phía bắc. Hải Dương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và có vị trí chiến lược về chính trị, quân sự hết sức quan trọng của cả nước.

Nằm trên một địa bàn quan trọng của Tổ quốc, Hải Dương là vành đai bảo vệ trực tiếp thủ đô Hà Nội, là tuyến trong của thành phố cảng Hải Phòng. Điểm cực bắc của tỉnh là xã Hoàng Hoa Thám (Chí Linh) chỉ cách biên giới phía bắc 82km theo đường chim bay, nhân dân địa phương đi theo đường xuyên rừng 2 ngày, đêm đã tới biên giới Việt Trung. Phía đông tiếp giáp với thành phố Hải Phòng, điểm gần biển nhất là Quý Cao (Tứ Kỳ), cách bờ biển 25km theo đường thẳng và 30km theo đường sông Văn Úc. Từ phía Đông Hải Dương được thông với biển bằng mạng lưới sông lớn đổ ra 6 cửa sông, từ những cửa sông này, tàu thuyền có thể từ biển vào thị xã Hải Dương, qua Lục Đầu Giang theo sông Đuống về thủ đô Hà Nội hoặc theo sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam tiến sâu vào trung tâm Việt Bắc [34, tr.

Trong các cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, nhiều lần các thế lực ngoại xâm đã sử dụng những tuyến sông này làm những hướng tiến quân chủ yếu. Khi các phương tiện vận tải đường không, đường sắt, đường bộ chưa phát triển, mạng lưới đường sông trên đất Hải Dương có vị trí quan trọng trong vận tải nói chung, đặc biệt là trong vận tải quân sự. Và ngày nay, tuyến đường thủy này vẫn đóng vai trò quan trọng về kinh tế và quân sự. Không chỉ quan trọng về đường thủy, Hải Dương còn giữ vị trí chiến lược về giao thông đường bộ, đường sắt, nối thủ đô Hà Nội với cảng Hải Phòng và vùng công nghiệp mỏ Quảng Ninh.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, tuyến đường quốc lộ số 5 và đường sắt Hà Nội – Hải Phòng chạy trên qua Hải Dương là "cái yết 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hầu" nối "cuống họng" (Hải Phòng) với "cái dạ dày" (Hà Nội) [33, tr. Ở phía Bắc tỉnh, đường số 18 chạy xuyên hai huyện Chí Linh, Đông Triều. Mạng lưới đường bộ chạy chằng chịt ngang dọc khắp tỉnh cũng khá phát triển, có ý nghĩa lớn trong chiến tranh cũng như trong phát triển sản xuất, phục vụ đời sống nhân dân. Địa hình Hải Dương phần lớn là đồng bằng (chiếm 89%), bán sơn địa và rừng núi (chiếm 11%), nghiêng từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam.

Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, được chia thành hai mùa rõ rệt. Những tháng mùa khô, cơ giới hoạt động thuận tiện, các loại xe vận tải quân sự và xe chiến đấu loại nhẹ đi lại dễ dàng trên cả quốc lộ, đường liên tỉnh, liên huyện, xe bánh xích có thể cơ động trên các cánh đồng. Về mùa mưa, xe cơ giới chỉ hoạt động được trên các quốc lộ và các đường liên tỉnh, liên huyện được rải mặt và các tuyến đê [33, tr. Do kết cấu địa chất của vùng châu thổ, nên đất đai phần lớn của Hải Dương thuộc loại sa bồi và thịt pha cát, nhất là các huyện nằm ven sông Luộc và các triền hạ lưu sông Thái Bình.

Vùng đất thịt và sét nằm ở các huyện nội đồng, thường có cốt đất thấp, lại bị mưa hay gây úng, nên nhìn chung là khó cấu trúc công sự ngầm, khó khăn trong việc xây dựng kho bãi để cất giấu tài sản, vũ khí, khí tài, lương thực, thực phẩm. Ở các huyện phía Đông và Đông Nam của tỉnh do sông, lạch chằng chịt nên ngoài những khó khăn trên còn có thêm trở ngại lớn là địa bàn bị chia cắt, chiến trường dễ bị bao vây, cô lập nếu đối phương có thủy đội mạnh [34, tr. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, hầu hết các làng xã trên địa bàn Hải Dương nằm dọc hai bên các triền sông. Vùng ven sông Luộc, sông Thái Bình, sông Kinh Thầy.

có các khu vực làng mạc dầy đặc, rất thuận tiện cho việc trú quân và giấu quân, cơ động lực lượng và tổ chức chiến đấu liên hoàn. Một số huyện trong tỉnh do ít sông lạch, nguồn nước khó khăn, nên làng mạc thưa thớt, phần nhiều ở thế độc lập; có nơi làng này sang làng kia cách nhau từ 2 đến 3km, tạo nên những khoảng trống lớn, có những cánh đồng rộng hàng trăm hecta… Ở các huyện Cẩm Giàng, Ninh Giang, Gia Lộc, Thanh Miện, Nam Sách, Tứ Kỳ, làng xóm thường có lũy tre bao bọc kín đáo và chắc chắn, có nhiều ao xen kẽ, đường đi lối lại ngoằn ngoèo và hiểm trở, cổng làng được xây dựng kiên cố… thuận tiện cho việc xây dựng công sự và tổ chức chiến đấu, nhưng dễ bị bao vây, chia cắt, bị hỏa lực địch tập trung đánh phá nếu không biết tổ chức chiến đấu liên hoàn và giỏi đánh địch bằng nhiều cách thích hợp. Ở các huyện Chí Linh và Kinh Môn làng mạc thường nhỏ nằm bám theo các triền núi, sông; ở trong các thung lũng, khe; một số làng nằm 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ở ngay cửa rừng hoặc nằm sâu và ăn liền vào dãy núi Yên Phụ rất hiểm trở [33, tr. Những nơi này vừa tiện cho việc cấu trúc công sự; vừa tiện cho xây dựng các căn cứ hậu phương, kho, trạm, là nơi đứng chân cho lực lượng chiến đấu lớn và tổ chức tác chiến cho cả ba thứ quân, với nhiều lối đánh phong phú.

Nhưng đây cũng là vùng dễ bị địch chia cắt do nhiều sông, rạch và nhiều đường chiến lược chạy qua, là nơi dễ gặp khó khăn về bổ sung tiếp túc do nguồn hậu cần tại chỗ còn hạn chế. Như vậy, với vị trí quan trọng, địa hình, khí hậu thuận lợi, Đảng bộ và nhân dân Hải Dương có điều kiện phát huy thế mạnh xây dựng hậu phương tại chỗ vững mạnh góp phần làm nên thắng lợi chung của đất nước trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp Điều kiện kinh tế, xã hội Kinh tế ở Hải Dương dựa trên nền sản xuất nông nghiệp là chính. Khí hậu ôn hòa, đất đai màu mỡ, nên nghề nông trồng lúa nước đã trở thành nghề truyền thống của nhân dân trong tỉnh với trình độ thâm canh ngày một cao. Từ xa xưa, bên cạnh cây lúa nước là chủ đạo, nhân dân Hải Dương đã tận dụng đất bãi để phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm, tự túc một phần may mặc; đã tận dụng vùng sình lầy ngập mặn để trồng cói dệt chiếu, tận dụng vùng đồi núi để trồng chè, đậu tương, đỗ, lạc.

bổ sung nguồn thực phẩm phục vụ dân sinh và phục vụ kháng chiến. Chăn nuôi cũng là thế mạnh của Hải Dương. Nhân dân Hải Dương đã phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm. Do có nhiều ao hồ, sông lạch, nên nghề nuôi và đánh bắt cá nước ngọt ở Hải Dương cũng khá phát triển.

Đặc biệt vùng đồi núi Chí Linh, Đông Triều, mỗi làng bản có hàng đàn trâu, bò, dê. cung cấp nguồn sức kéo và thực phẩm cho xã hội. Có thể khẳng định, lương thực, thực phẩm là những mặt hàng chiến lược của Hải Dương. Ngoài việc tự cung cấp phục vụ quốc kế dân sinh thì nguồn lương thực, thực phẩm đó còn bảo đảm cho nhu cầu thiết yếu của các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống lại mọi kẻ thù của dân tộc trong các thời kỳ trên địa bàn quê hương một cách kịp thời và có hiệu quả.

Ngoài đất đai sản xuất ra lương thực, thực phẩm, Hải Dương còn có những khoáng sản phục vụ cho dân sinh và quốc phòng như than đá, đất chịu lửa, bô xít, cao lanh đá vôi, cát trắng, than non, khí đốt. Diện tích rừng trồng không lớn nhưng có nhiều gỗ quý ở Bắc An, Hoàng Hoa Thám. Song, tre, mây thì khá nhiều, được trồng bao bọc ở hàng nghìn làng, xóm khắp tỉnh, ngoài việc góp phần phát triển nghề thủ công nó còn tạo ra cho công binh xưởng Chí – Nam – Kinh, cho các bễ lò rèn của các làng kháng chiến, cả vật liệu rèn kiếm, vót chông, gậy tầm vông, đánh 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dao, đúc mìn, lựu đạn, địa lôi. tự túc một phần quan trọng vũ khí thô sơ để đánh giặc ngay giữa lòng địch trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Trước Cách mạng tháng Tám, Hải Dương chỉ vẻn vẹn có 3 xí nghiệp than, một nhà máy rượu, một số xí nghiệp đá. Dân số Hải Dương có khoảng gần 900.000 người, trong đó trên 92% là nông dân, địa chủ gần 6%, còn lại là các tầng lớp khác. Đồng bào theo đạo Chiên Chúa ở rải rác trong tỉnh, nhưng tập trung nhiều nhất là ở khu Kẻ Sặt (Bình Giang), Ba Đông, Bượi Răm (Gia Lộc), thành phố Hải Dương và những nơi xung yếu ven đường giao thông có ý nghĩa về mặt quân sự [34, tr.16] (theo thống kê năm 2005, dân số Hải Dương có 1. 364 người [13, tr.

Truyền thống lịch sử Trong quá trình dựng nước và giữ nước, nhân dân Hải Dương có sức mạnh cộng đồng vô cùng to lớn được hun đúc từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hải Dương cũng là một trong những miền đất tiêu biểu của các công cuộc trị thủy, khẩn hoang và lao động cần cù sáng tạo… Mảnh đất Hải Dương là vùng đất nổi tiếng khắp cả nước về truyền thống đỗ khoa bảng qua các triều đại phong kiến Việt Nam. Từ khoa thi đầu tiên năm 1075 đến khoa thi cuối cùng 1919, Hải Dương là vùng đất có nhiều tiến sĩ nhất cả nước; trong đó làng Mộ Trạch (Bình Giang) nổi tiếng là "Lò Tiến sĩ xứ Đông" [13, tr. Hải Dương là nơi sinh ra và nuôi dưỡng nhiều tài năng lỗi lạc.

Mạc Đĩnh Chi – người làng Lôi Động, Chí Linh nổi tiếng là người “có đầu óc kinh bang tế thế vào bậc nhất”, được vua Nguyên phong học vị “Lưỡng quốc trạng nguyên”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ