phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nƣớc về bảo tồn và phát huy giá trị di tích. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về bảo tồn và phát huy giá trị di tích trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về bảo tồn và phát huy giá trị di tích trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DI TÍCH; BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH 1.
Một số khái niệm 1. Văn hóa và di sản văn hóa 1. Văn hóa Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa theo những lát cắt cũng nhƣ phạm vi rộng hẹp khác nhau, nhƣng tựu chung lại đều thừa nhận văn hóa là những giá trị to lớn do con ngƣời sáng tạo ra. Năm 1982, Tổ chức UNESCO đã thống kê (chƣa đầy đủ) có khoảng 200 định nghĩa về văn hóa trên thế giới.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội trong vài thập kỷ gần đây, con số này chắc chắn nhiều hơn thế.Ăngghen đã có những nghiên cứu sâu sắc về văn hóa và khẳng định rằng: “văn hóa là tổng thể toàn bộ ý thức xã hội của con ngƣời gắn với đặc điểm quốc gia dân tộc”. Văn hóa là các lực lƣợng bản chất của con ngƣời tham gia vào cải biến tự nhiên nhằm mục đích sinh sống và tồn tại, phát triển. Văn hóa là sự sáng tạo, đồng thời là sự biểu hiện của các lực lƣợng bản chất ngƣời: Căn cứ vào mức độ tự nhiên đƣợc con ngƣời biến thành bản chất ngƣời, tức là mức độ tự nhiên đƣợc con ngƣời khai thác, cải tạo thì có thể xem xét đƣợc trình độ văn hóa của con ngƣời. Tylor, Văn hóa là: “Một toàn thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, luân lý, luật pháp, phong tục và tất thẩy những năng lực khác và những tập quán khác mà con người có được với tư cách là thành viên của xã hội”.
Có thể coi đây là định nghĩa khoa học đầu tiên về văn hóa, cũng từ đây, văn hóa trở thành đối tƣợng mới mẻ và riêng biệt của nhiều khoa học xã hội và nhân văn. Năm 1943, Hồ Chí Minh đã đƣa ra một quan niệm văn hóa vừa cụ thể lại vừa khái quát: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài 9 người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những phát minh và sáng tạo đó là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó do loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn”.
Năm 1982, trong Tuyên bố về Những chính sách văn hóa, Tổ chức UNESCO đã thống nhất định nghĩa “văn hóa” nhƣ sau: Trên ý nghĩa rộng nhất, văn hóa có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của xã hội hay một nhóm ngƣời trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật hay văn chƣơng, những lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời, những hệ thống giá trị, những tập tục, những tín ngƣỡng. Văn hóa đem lại cho con ngƣời khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý.
Chính nhờ văn hóa mà chúng ta xét đoán đƣợc những giá trị và thực thi sự lựa chọn. Chính nhờ văn hóa mà con ngƣời tự thể hiện, tự ý thức đƣợc bản thân, tự biết mình là một phƣơng án chƣa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vƣợt trội lên bản thân [38]. Nhƣ vậy, văn hóa là cái đƣợc tích luỹ, lựa chọn của con ngƣời bằng một quá trình nhận thức, lựa chọn phƣơng thức thích ứng với hoàn cảnh, sáng tạo để lao động sản xuất, cải thiện hoàn cảnh, cải thiện cuộc sống, khẳng định sức mạnh của con ngƣời đối với thế giới bên ngoài. Đồng thời, con ngƣời tự hoàn thiện, làm mới hoạt động của mình, đem lại hiệu quả nhiều hơn, chất lƣợng hơn cả về vật chất và tinh thần.
Di sản văn hóa Di sản văn hóa, có thể hiểu một cách khái quát, là các công trình và tập quán mà một xã hội đƣợc kế thừa từ quá khứ, muốn bảo tồn và truyền lại cho các thế hệ tƣơng lai. Có thể coi một đối tƣợng là di sản khi hội đủ ba tiêu chí, cũng là ba giá trị cơ bản: Tính truyền thông, tính khoa học, tính kinh tế. Di sản văn hóa là sản phẩm sáng tạo trong quá trình hoạt động của con ngƣời nhằm vƣơn tới đỉnh cao giá trị chân - thiện - mỹ, là sự kết tinh của mối quan hệ tổng hòa và tƣơng tác giữa môi trƣờng - con ngƣời - văn hóa, là sự vƣơn lên những thách thức khốc liệt bằng sự kiên trì, lòng dũng cảm, trí thông minh và khát vọng vƣơn tới tầm cao của nhân loại, là tấm lòng bao dung, sự dung hợp giữa việc bảo tồn bản sắc riêng của mình với sự thích ứng, tiếp thu những giá trị của các văn hóa khác. Có thể khẳng định: Di sản văn hóa là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Di sản văn hóa là cái đặc trƣng khiến quốc gia, dân tộc này khác biệt với quốc gia, dân tộc kia, là cái trƣờng tồn cùng với thời gian và đƣợc xã hội thừa nhận, tôn vinh. Ngày 29/6/2001, Quốc hội Khóa X đã thông qua Luật di sản văn hóa (Luật số 28/2001/QH10) và tiếp tục đƣợc sửa đổi, bổ sung tại Quốc hội Khóa XII (Luật số 32/2009/QH12). Di sản văn hóa quy định tại Luật Di sản văn hóa: “là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Di tích và bảo tồn, phát huy giá trị di tích 1.
Di tích Di tích đƣợc hiểu theo nghĩa chung nhất là “dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử” [25, tr. Theo đó, di tích là các di sản văn hóa vật thể đƣợc tạo tác bởi 11 thiên nhiên hoặc từ bàn tay con ngƣời, có giá trị về văn hóa, lịch sử, có ảnh hƣởng nhất định đến nền văn hóa của bất kể một quốc gia, dân tộc nào. Bảo tồn, phát huy giá trị di tích - Khái niệm bảo tồn Theo Từ điển Tiếng Việt, “Bảo tồn là giữ lại không để mất đi” [25, tr. Bảo tồn di sản văn hóa có hai đối tƣợng để bảo tồn: di sản văn hóa vật thể và phi vật thể.
Hiểu theo cách chung nhất, bảo tồn di sản văn hóa tức là các hành động nhằm bảo vệ, gìn giữ, bảo lƣu lại sự tồn tại của các giá trị di sản văn hóa (vật thể, phi vật thể), gìn giữ chúng để tồn tại cùng với thời gian, lƣu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bảo tồn di tích là lƣu giữ, bảo vệ không làm cho các di tích bị mai một, bị thay đổi và biến dạng. - Khái niệm phát huy Phát huy hiểu theo nghĩa chung nhất là “làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm”. Phát huy là hành động nhằm đƣa văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, coi đó nhƣ nguồn nội lực, các tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con ngƣời, thể hiện mục tiêu của văn hóa đối với phát triển xã hội.
Phát huy di tích làm cho những giá trị văn hóa, nghệ thuật ẩn chứa trong di tích lan tỏa trong cộng đồng xã hội, có ý nghĩa xã hội tích cực. Phát huy các giá trị di tích phải biết kế thừa có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của thế hệ trƣớc để lại, làm cho các giá trị của văn hóa thấm sâu, lan tỏa vào đời sống cộng đồng xã hội, biết mở rộng giao lƣu văn hóa để làm giàu thêm bản sắc văn hóa và làm thăng hoa giá trị. Phát huy văn hóa truyền thống ẩn chứa trong di tích nhằm mục tiêu phát triển du lịch bền vững, phục vụ tích cực cho công tác bảo tồn các di sản văn hóa. Quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị di tích 1.
Quản lý nhà nước 12 Quản lý nhà nƣớc là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nƣớc. Hoạt động quản lý gắn liền với hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà nƣớc. Hiện nay khái niệm quản lý nhà nƣớc vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau. Có thể nhận thấy: “Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do hệ thống cơ quan nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành dựa trên cơ sở pháp luật để thực hiện luật pháp Nhà nước.
Quản lý nhà nước là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước” [16, tr. Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nƣớc đƣợc hiểu là “sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước hay quản lý nhà nước là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm thực hiện các chức năng trên” [16, tr. Theo nghĩa hẹp, “Quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan nhà nước (hoặc các tổ chức xã hội nếu được nhà nước ủy quyền) được tiến hành trên cơ sở và để thi hành luật nhằm thực hiện trong cuộc sống hàng ngày các chức năng của nhà nước trên mọi lĩnh vực hành chính - chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội” [16, tr.