CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ DANH NHÂN HUỲNH VĂN NGHỆ TỪ NHỎ ĐẾN TRƯỚC KHI THAM GIA CÁCH MẠNG 1. VÀI NÉT VỀ HUỲNH VĂN NGHỆ LÚC NHỎ VÀ GIA ĐÌNH 1. Huỳnh Văn Nghệ lúc nhỏ Huỳnh Văn Nghệ (Tám Nghệ) sinh ngày 2-2-1914, nhằm ngày mùng tám tháng Giêng năm Giáp Dần. Ông sinh ra tại làng Tân Tịch, tổng Chánh Mĩ hạ, tỉnh Biên Hoà, nay là xã Thường Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Vùng đất Tân Uyên nơi Tám Nghệ sinh ra nằm ở hữu ngạn sông Đồng Nai, ngày xưa nơi đây vốn thuộc tỉnh Biên Hoà nhưng sau này trở thành một huyện nằm ở phía Nam của tỉnh Bình Dương. Vùng đất này vốn có một vị trí và địa hình khá đặc biệt địa hình khá hiểm trở và nhiều rừng rậm, nơi này vốn là một vùng quê nghèo khó nhưng lại sản sinh ra nhiều người con tài hoa. Bên cạnh Huỳnh Văn Nghệ còn có Huỳnh Văn Luỹ, Tô Văn Của, Hoàng Văn Bổn. Huỳnh Văn Nghệ sinh ra vào những năm Biên Hoà đang rộ lên những tiếng súng của quân thù đàn áp những tổ chức võ trang chống Pháp, gia đình tuy nghèo nhưng lại giàu lòng yêu nước.
Cậu bé Huỳnh Văn Nghệ từ khi sinh ra đã khá cực khổ do sinh ngược và khiến mẹ phải bị ốm suốt mấy tháng liền. Lớn lên, Huỳnh Văn Nghệ lại là một đứa trẻ nghịch ngợm thường cầm đầu những đứa trẻ trong làng phá làng, phá xóm. Nghệ được cha mẹ cho đi học tại một trường sơ học trong vùng là trường Mĩ Lộc (École Elémentaire) mong muốn sau này cuộc sống đỡ vất vả hơn cha mẹ. Gia cảnh nghèo khó, đi học thường bị đối xử bất công bởi những đòn roi không đáng nên Huỳnh Văn Nghệ trốn học nhiều hơn là đến trường.
Sau khi học xong năm cuối ở trường Mĩ Lộc, Huỳnh Văn Nghệ về Tân Uyên để học trường tiểu học (École primaire de plein exercices) cũng là trường tiểu học duy nhất ở Chán Mĩ. Với tư chất thông minh vốn có Nghệ đã không còn là cậu bé ham vi chơi, trốn học ngày nào mà giờ đã chăm chỉ học tập và sau hai năm thi lấy bằng tiểu học đồng thời nhận được học bổng tại trường Pétrus Ký. Vài nét về gia đình Cha của Huỳnh Văn Nghệ là ông Huỳnh Văn Tờn (1878-1925) một thầy dạy võ và đi làm thuê. So với những người dân trong làng lúc này thì ông Tờn là một người có học bởi ông nói được chữ Nho và ông cũng là một người thầy dạy võ nghĩa khí vì vậy nên ông được nhiều người trong làng kính trọng.
Ngoài biết chữ Nho và thạo võ nghệ mà ông Tờn còn thạo nghề sông nước, thường xuyên đi cưa gỗ mướn và lam lũ chèo đò để nuôi các con. Mặc dù gia đình khó khăn, nhiều lần được mời ông lãnh chức Hương tuần nhưng đều bị ông từ chối, nhất quyết không làm lính cho Tây. Tuy bị cấm dạy võ nhưng ông Tờn vẫn dạy võ lén cho những thanh niên trong vùng. Cha của Tám Nghệ là một con người khí phách, nhưng do một lần đi lên rừng bị rắn độc cắn nên ông đã không qua khỏi, ông ra đi khi chỉ mới 48 tuổi và Huỳnh Văn Nghệ chỉ mới là một cậu thiếu niên và rồi bao nhiêu gánh nặng đè lên vai người vợ của mình.
Mẹ của Huỳnh Văn Nghệ là bà Đoàn Thị Hiển (1880-1970), người dân ở miền Đông thường gọi bà với cái tên thân thuộc hơn là “Má hai”. Bà làm nghề gánh hàng bán cau khô, vải, nước mắm.Khác với chồng của mình, bà thì không biết chữ nhưng nhưng đạo nghĩa ông bà luôn thấm vào con người bà. Vốn là một người phụ nữ hiền lành, chân chất, tảo tần buôn bán, bà cũng biết nhiều chuyện về nghĩa quân Tân Uyên chống giặc, về chùa Ông Mõ, chuyện về đồn Mĩ Lộc. nên đêm về bà hay kể cho chị em Huỳnh Văn Nghệ nghe.
Mỗi ngày rằm bà thường đi chùa thắp hương khấn thần linh, ông bà và vong hồn của các nghĩa quân đã hi sinh. Gia đình của Huỳnh Văn Nghệ vốn thuộc loại cùng đinh của làng Tân Tịch. Trước khi sinh ra Nghệ gia đình từng ống du cư trên sông Bao Ngược. Đời các ông cố phải chuyển về vùng rừng Tân Tịch sống và đến đời cha của Huỳnh Văn Nghệ cũng vậy.
Gia đình ban đầu sống ở ghe nhưng đến năm 1903 do một trận vii bão ở vòm sông Bao Ngược nên đã cuốn hết gia sản và hai người con đầu. Huỳnh Văn Nghệ là con thứ bảy trong gia đình nên được gọi là Tám Nghệ. Hai người con đầu mất do lũ, người thứ ba và thứ sáu mất sớm, Tám Nghệ có một người anh thứ tư là Năm Thọ, người chị thứ năm là Sáu Yến và hai người em út là Chín Lưỡng và Mười Mẫn. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP VÀ TÌM ĐẾN VỚI CÁCH MẠNG 1.
Quá trình học tập Huỳnh Văn Nghệ (Tám Nghệ) từ nhỏ đã ảnh hưởng tinh thần những tinh thần yêu nước từ gia đình, thừa hưởng một nền giáo dục rất tốt. Qua các lời kể của mẹ, lịch sử quê hương đã từ lâu thấm dần vào tâm trí của Huỳnh Văn Nghệ. Năm 1924, sau khi tốt nghiệp bậc tiểu học, Huỳnh Văn Nghệ giành được học bổng của trường Pétrus Ký Sài Gòn. Nén những nỗi đau thương trong gia đình, nước mắt cùng những câu chuyện mẹ kể về lịch sử giúp Tám Nghệ lớn lên một cách bất ngờ.
Tám Nghệ rời quê hương lên Sài Gòn, nơi đó có ánh đèn sa hoa lộng lẫy mà hằng đêm người dân Tân Uyên vẫn hay nhìn sang để thực hiện mong muốn của ba mẹ cố gắng học tập. Cũng như bao chàng trai Tân Uyên, Huỳnh Văn Nghệ lớn lên giữa một vùng thiên nhiên phóng khoáng, gắn liền với những điều mộc mạc, những con người giản dị và xa lạ với ánh đèn của thị thành. Nhưng rồi một ngày cũng phải rời xa quê hương để đến với ánh sáng thị thành. Trong khoảng thời gian Huỳnh Văn Nghệ học tại Pétrus Ký do nhà nghèo nên ông cũng không thường xuyên đi chơi mà chỉ đến sở thú bởi nơi đây yên tĩnh và mát mẻ nhất giữa đất Sài Gòn.
Huỳnh Văn Nghệ từng sống ở vùng rừng núi, thiên nhiên nơi những con thú cũng có được sự tự do còn đối với Huỳnh Văn Nghệ sở thú này là một nơi có phần giả tạo, nhỏ hẹp nhưng bù lại sự yên tĩnh của nơi đây giúp Huỳnh Văn Nghệ thoát được sự ngột ngạt của thành phố “Anh thích những cành cây dù bị xén cành, tỉa ngọn vẫn vươn lên giữa cao đón nắng, đón gió. Anh thương những con thú dù bị nhốt trong viii cũi sắt nhưng vẫn gầm thét đòi về với chốn sơn lâm. Anh ghét mấy con chim mồi, dù không bị cột, bị nhốt nữa, vẫn không buồn cất cánh bay đi” [10, 134]. Đồng thời, ở đây cũng giống như một Sài Gòn thu nhỏ nơi mà Huỳnh Văn Nghệ có thể chứng kiến được những màn kịch trong xã hội, những mảnh đời bất hạnh giữa một thành phố xa hoa, lộng lẫy.
Lúc này Huỳnh Văn Nghệ cũng bắt đầu với sự nghiệp làm thơ của mình. Ban đầu thơ của Huỳnh Văn Nghệ làm để thể hiện sự đồng cảm của mình đối với những mảnh đời bất hạnh kia “Huỳnh Văn Nghệ bắt đầu làm thơ để nói lên tiếng lòng cảm thông của mình trước những mảnh đời bất hạnh. Anh sớm hiểu rằng, nghệ thuật phỏng có ích gì nếu nó không là tiếng kêu đau đớn về thân phận con người hay tiếng ca uất hận, thúc giục con người đứng lên giành quyền tự do, quyền sống” [10,135]. Trong thời gian Huỳnh Văn Nghệ học tại trường Pétrus Ký cũng xảy ra một sự kiện đó là xuất hiện hình vẽ lá cờ búa liềm cùng dòng chữ “Đảng Cộng sản Đông Dương” khiến cho Huỳnh Văn Nghệ cùng những người bạn thân của mình bị quản thúc trong vòng một tháng nhưng nó cũng giúp Huỳnh Văn Nghệ biết được sắp tìm được “con đường” mà mình cần phải đi.
Quá trình giác ngộ cách mạng và hình thành con đường cứu nước Khi học tại trường trung học Pétrus Ký tại Sài Gòn, Huỳnh Văn Nghệ thường có thái độ bài Pháp thực dân Pháp và bắt đầu có những tiếp xúc đầu tiên với những ngưởi Cộng sản. Huỳnh Văn Nghệ đã bắt đầu có những tiếp xúc đầu tiên và xác định được chí hướng của mình. Với niềm tin sẽ tìm được Đảng và mong muốn trở thành một người Cộng sản. Năm cuối của bậc trung học Huỳnh Văn Nghệ bị viêm xương mũi, phải vào nhà thương Chợ Rẫy.
Từ đây, Tám Nghệ bắt đầu tiếp xúc với người Cộng sản là chị Phụng lớn hơn vài tuổi. Phụng là một người Cộng sản vừa mới ra tù, do bị chứng bệnh giống Tám Nghệ nên được đưa đến nhà thương Chợ Rẫy. ix Năm 1932, sau khi tốt nghiệp với bằng Thành chung, không có điều kiện để học tiếp Huỳnh Văn Nghệ làm công chức tại Sở Hoả xa Đông Dương (Sài Gòn). Ngay từ khi 18 tuổi, Huỳnh Văn Nghệ đã luôn tìm cách giúp đỡ, bênh vực người nghèo và bắt đầu tham gia các hoạt động chống Pháp.
Cũng trong thời gian này Tám Nghệ được các cán bộ Cộng sản vận động tham gia phong trào Đông Dương Đại hội được tổ chức vào năm 1936. Huỳnh Văn Nghệ bắt đầu các hoạt động làm thơ, viết báo bằng hai ngôn ngữ Việt – Pháp và lấy bút danh Hoàng Hồ. Năm 1937, Huỳnh Văn Nghệ được bí mật kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất. Năm 1942, giữa lúc đang làm việc tại Sở Hoả xa Sài Gòn thì nghe tin nhà trọ của Huỳnh Văn Nghệ bị mật thám của Pháp khám xét và bắt đi chị chủ nhà để tra hỏi.
Đồng thời Huỳnh Văn Nghệ bị mật thám Pháp phát hiện gói thuốc đạn trong vali, đó là gói thuốc đạn mà ông phải tiếp tế cho chi bộ tại Tân Tịch. Huỳnh Văn Nghệ phải tìm cách trốn sang nước ngoài “Nhờ anh Sang, bạn cũ từ hồi tham gia đình công của anh em công nhân xe lửa Sài Gòn năm ba mươi bảy, Huỳnh Văn Nghệ sang Xiêm (Thái Lan)” [10, 88]. Ở Bangkok, thủ đô của Thái Lan Huỳnh Văn Nghệ may mắn gặp được những người Việt giúp đỡ đó là hai anh Hoành và Thuận “Anh Thuận là tài xế xe khách đường Sài Gòn – Vũng Liêm. Anh Hoành là nhà báo của nhóm Leuple.
Hai anh đều từng tham gia khởi nghĩa Nam Kì và chạy sang Thái từ đầu năm bốn mốt” [10, 89]. Tại Thái Lan, Huỳnh Văn Nghệ đã cùng hai anh thành lập một chi bộ lấy tên “Chi bộ Bangkok” vì ở hoàn cảnh lúc này rất khó khăn để có thể bắt liên lạc với Đảng.