Chương 1 KHÁI QUÁT VAI TRÒ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NGHỆ AN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945 - 1954) 1. Vài nét về điệu kiện tự nhiên - xã hội Nghệ An 1. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, cư dân Nghệ An Nghệ An là một miền đất rộng, người đông thuộc Bắc Trung Bộ, cách thủ đô Hà Nội 291 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.424km, Nghệ An được định vị từ 18035'00'' đến 20000'10'' vĩ độ Bắc và từ 103050'25'' đến 103040'30'' kinh độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Đông là Biển Đông, phía Tây giáp các tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bô-Ly-Khăm-Xay, thuộc cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, với đường biên giới dài 419 km.
Diện tích Nghệ An là 16.487 km2, lớn hàng thứ 3 trong cả nước (sau Đắc Lắc và Lai Châu), nằm trong vùng kiến tạo đặc biệt có từ tuổi địa chất già đến rất trẻ, địa hình ở Nghệ An rất đa dạng: miền núi và trung du chiếm gần 3/4 diện tích toàn tỉnh, núi non trùng điệp ở phía Tây, chay theo hướng Tây bắc - Đông nam, thấp dần về phía đông, tạo thành thế nghiêng Đông - Tây, cao nhất là đỉnh Phu-Xai-Lai-Leng (Kỳ Sơn) với độ cao 271 mét. Dãy Phu-Xai-Lai-Leng dốc đứng trên một dải dài khoảng 200km, tạo thành biên giới tự nhiên giữa hai nước Việt - Lào và thấp dần về phía Nam. Núi rừng trùng điệp dọc ngang tạo thành "thiên la đại võng" rất thuận lợi trong công cuộc phòng thủ đất nước. Từ xa xưa, các vị anh hùng dân tộc đều chọn vùng rừng núi để làm nơi lập căn cứ cho các cuộc dậy nghĩa và chiến tranh giữ nước giải phóng dân tộc.
Địa hình đồi núi bao trùm trên 80% diện tích tự nhiên của tỉnh, nối tiếp vùng núi cao phía tây (bao gồm các huyện 9 Kỳ Sơn, Con Cuông, Quế Phong, Qùy Châu, Quỳ Hợp) là vùng núi thấp (trước đây gọi là vùng trung du, bao gồm các huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Thanh Chương, Nam Đàn), vùng đồi núi thấp không những có vị trí rất quan trọng về kinh tế nông, lâm, nghiệp mà còn có tầm quan trọng chiến lược về quốc phòng - an ninh. Đồng hẹp, bị chia cắt bởi nhiều sông, lạch và những đồi núi lẻ ăn thông ra biển. Vùng này là nguồn cung cấp dồi dào về lực lượng và của cải từ xa xưa đến nay. Bờ biển dài 83 km, có 6 cửa lạch (lạch Cờn, lạch Quèn, lạch Thơi, lạch Vạn, Cửa Lò, Cửa Hội).
Vùng thềm lục địa rộng lớn và có 2 đảo, đảo Hòn Ngư và đảo Hòn Mắt vươn ra Biển Đông giữ vi trí xung yếu của khu vực cửa ngõ vịnh Bắc Bộ [15,481]. Biển là kho tài nguyên vô giá về khoáng sản, hải sản, danh lam thắng cảnh mở ra khả năng to lớn phát triển các ngành công nghiệp, khai thác hải sản, du lịch - dịch vụ. Biển còn có vị trí chiến lược cực kì quan trọng, là khu vực phòng thủ từ xa, phòng chống địch tấn công từ hướng Đông, các đảo là các đài quan sát, những trận địa tiền tiêu, là cứ điểm bảo vệ hành lang cơ động và hoạt động kinh tế biển của ta trong mọi tình huống. Cư dân miền biển đã không ngừng lao động sáng tạo khai thác tiềm năng của biển, đóng góp xứng đáng cho công cuộc dựng nước và giữ nước.
Giao thông vận tải, Nghệ An có quốc lộ 1A xuyên việt ở phía Đông, quốc lộ 15A xuyên việt ở phía Tây, đi suốt chiều dài Bắc - Nam của tỉnh. Quốc lộ 7 xuất phát từ quốc lộ 1A tại ngã ba Diễn Châu đi theo hướng Tây Bắc sang tận Xiêng Khoảng (Lào); Quốc lộ 48, Yên Lý - Quế Phong; Quốc lộ 46, Cửa Lò - Dùng - Đô Lương; Các tỉnh lộ 558, Vinh - Phú Thành; 534 Quán Hành - Bảo Nham; 537 Cầu Giát - Lạch Quèn; 538 Cầu Bùng - Công Thành; 454 của Nghệ An từ ga Hoàng Mai sang ga Yên Xuân. Về đường thuỷ, sông Lam, sông Con rất thuận tiện cho việc vận tải lâm sản từ miền ngược về miên xuôi. Các con kênh nhân tạo, đặc biệt là kênh Nhà 10 Lê cũng là một trục giao thông đường thủy quan trọng từ thời Tiền Lê.
Cảng Cửa Lò được xác định là cảng của vùng, phục vụ cho 3 tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh và trung chuyển cho vùng hạ Lào. Các tàu có thể neo đậu tại Hòn Ngư (cách cảng 7 km) để trung chuyển hàng hóa vào cảng. Hiện nay tàu 3.000 tấn có thể ra vào dễ dàng. Phía Nam thành phố Vinh, có cảng sông Bến Thuỷ cảng này có từ thời thuộc Pháp, được nạo vét, mở rộng vào năm 1929.
Ngày nay, cảng hoạt động nhộn nhịp và cảnh quan thêm tươi đẹp, bởi cầu Bến Thuỷ nối liền 2 bờ Nam Bắc sông Lam. Với vị trí địa lí quan trọng như trên, Nghệ An trở thành địa bàn trọng yếu của nước ta qua các thời kì lịch sử. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Nghệ An là tỉnh hậu phương trực tiếp của chiến trường. Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Nghệ An không những là hậu phương miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam mà còn là tiền tuyến, trực tiếp tham gia chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, góp phần cùng cả nước hoàn thành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Truyền thống yêu nước của nhân dân Nghệ An Trải qua hàng chục vạn năm đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên, với áp bức, cường quyền của các chế độ thống trị trong nước và nạn ngoại xâm, nhân dân Nghệ An đã xây dựng nên bản sắc chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, cần cù, dũng cảm, giàu lòng yêu nước, chí khí kiên cường bất khuất liên tiếp vùng dậy bẻ gãy xiềng xích, đứng lên giành độc lập. Năm 1858, lợi dụng sự suy yếu của vua chúa nhà Nguyễn, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, nhân dân ta từ Bắc chí Nam đã dũng cảm đứng lên đánh giặc Pháp. Hưởng ứng phong trào Cần Vương, đồng bào các dân tộc trong tỉnh Nghệ An dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước đã hăng hái tham gia các cuộc khởi nghĩa. Nhân dân Nghệ An đã thể hiện quyết tâm "đánh cả 11 Triều lẫn Tây".
Tại Thanh Chương, Nam Đàn từ năm Giáp Tuất (1874), trong phong trào Văn Thân đã nổi lên cuộc khởi nghĩa của Trần Tấn và Đặng Như Mai. Cuộc khởi nghĩa này đã làm chấn động dự luận trong toàn quốc. Trong phong Cần Vương, tại Bắc Nghệ An dẫy lên cuộc khởi nghĩa lớn do tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn và phó bảng Lê Doãn Nhã lãnh đạo lập căn cứ ở Diễn Châu và Yên Thành. Hai ông cùng với Nguyễn Nguyên Thành, Phan Bá Niên tổ chức chiến đấu kiên cường.
Những trận tấn công chớp nhoáng của nghĩa quân nổ ra ở Cầu Bùng, Cầu Giát, Kênh Sắt đã gây thiệt hại cho quân địch. Tại Đồng Mờm và Phủ Lý - Diễn Châu nghĩa quân đã lập được nhiều chiến công vang dội, khu vực Đồng Thông (Yên Thành) được xây dựng thành căn cứ quân sự vững chắc. Khi cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng từ Hương Khê (Hà Tĩnh) phát triển ra, nhân dân Nghệ An đã sôi nổi hưởng ứng. Đến đầu thế kỷ XX, Nghệ An lại là nơi khởi phát Duy Tân Hội và phong trào Đông Du với người đứng đầu là nhà chí sĩ yêu nước lừng danh Phan Bội Châu, Người con xứ Nghệ tiêu biểu nhất của phong trào yêu nước trong những năm đầu thế kỷ XX.
Từ sau phong trào Đông Du thất bại, Phan Bội Bội Châu và Cương Để bị trục xuất khỏi nước Nhật. Phong trào xuất dương vẫn diễn ra sôi nổi trên đất Nghệ An hướng xuất dương không còn sang Nhật mà sang Xiêm, Trung Quốc. Người có công khai phá ra hướng đi này là Đặng Thúc Hứa (quê Thanh Chương). Năm 1909 ông sang Xiêm và lập "trại cày" ở Thái Lan, hay các lớp huấn luyện ở Trung Quốc.
Tại các lớp huấn luyện này đã trưởng thành nhiều người con ưu tú đất xứ Nghệ như Đặng Quỳnh Anh, Võ Trọng Đài, Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Phạm Hồng Thái. Kế tục truyền thống yêu nước của tổ tiên, bước vào thời đại mới - thời đại cách mạng vô sản, những thanh niên yêu nước ở Nghệ An, tiêu biểu trong những người con đất Việt ra đi tìm đường cứu nước đầu thế kỷ XX, người 12 tiêu biểu nhất, đầu tiên bắt gặp ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin và cách mạng tháng Mười Nga, người duy nhất tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam là Nguyễn Ái Quốc. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918), thực dân phong kiến thi hành chính sách bóc lột nặng nề, không cam chịu làm nô lệ cho chúng, nhân dân lại vùng dậy đấu tranh. Đã đến lúc phong trào cách mạng Việt Nam đòi hỏi có một chính Đảng cách mạng khoa học tiên tiến đủ uy tín đứng ra lãnh đạo.
Đáp ứng yêu cầu lịch sử, ngày 03 tháng 02 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Ngay sau đó ngọn lửa cách mạng đã bùng cháy thành một cao trào đấu tranh sôi nổi mạnh mẽ nhất từ trước tới nay, cao trào 1930 - 1931 mà đỉnh cao là Xô Viết - Nghệ Tĩnh. Vô cùng thống khổ dưới bộ máy cai trị hà khắc của thực dân Pháp và phong kiến Nam Triều, thợ thuyền và dân cày cùng các tầng lớp nhân dân lao động ở Nghệ An đã nuôi chí quật khởi chờ dịp vùng lên chặt bỏ xiềng xích nô lệ giành lại quyền sống. Được ánh sáng của cách mạng tháng Mười Nga soi sáng, được các Đảng viên Cộng sản trung kiên tuyên truyền, giáo dục, tổ chức, phong trào đấu tranh của nhân dân phát triển rộng khắp toàn tỉnh.
Xô Viết Nghệ Tĩnh là cuộc tổng diễn tập đầu tiên của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam, là thiên anh hùng ca bất diệt trong chương đầu "pho lịch sử bằng vàng" của Đảng Cộng sản Việt Nam, là một trong những trang tiêu biểu nhất của khí phách anh hùng muôn thủa của dân tộc Việt Nam. Với Cao trào cách mạng 1930 - 1931 đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh, Quốc tế Cộng sản đã coi Việt Nam là điển hình đầu tiên trong 6 trường hợp điển hình ở các Châu lục, thuộc khối các nước thuộc địa và phụ thuộc có quá trình đấu tranh độc đáo từ khi Quốc tế Cộng sản ra đời.