mở đầu cho kỷ nguyên mới này, nhân dân Nam Bộ khắp nơi ta xuống đường chào mừng ngày Quốc khánh. Chính trong khoảnh khắc thiêng liêng ấy, quân Pháp từ trên lầu cao bên cạnh nhà thờ Đức Bà đã nỗ súng vào đoàn thường dân đang ăn mừng làm 47 người chết và nhiều người bị thương. Tiếp đó, thực dân Pháp liên tục đưa quân tiền vào Nam bộ thực hiện tái chiếm nơi đây. Từ ngày 6 đến ngày 11-9-1945, quân Anh dưới sự chỉ đạo của tướng Douglas David Gracey đã đưa một lữ đoàn vào Sài Gòn dưới danh nghĩa quân Đông Minh vào giải giáp quân Nhật, giải phóng Nam Bộ.
Theo sau lữ đoàn quân Anh, thực dan Pháp lén lút đưa một tiêu đoàn biệt kích gồm 120 lính Pháp vào Nam Bộ. Ngay sau khi đặt chân xuống Nam Bộ, quân Anh thay vì giải giáp quân Nhật như đã nói thì lại tiến hành thả các tù binh Pháp bị Nhật bắt giữ trước đây, trang bị vũ khí cho những tù binh đó. Tướng Anh Gracey còn lên tiếng chỉ trích Uy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ khi không giữ được an ninh, sau đó đưa bảy tiéu đoàn lính Nhật về Sài Gòn với lí do “lặp lại trật tự”. Thậm chí quan Anh cho thả cả những tên lính Pháp gây ra vụ khiêu khích ngày 2-9-1945, đòi chiếm lay trụ sở Ủy ban Hành chính Nam Bộ và buộc phải công nhận tên Cédile làm Thống đốc Nam Kỳ.
Ngày 11-9-1945, Douglas David Gracey chính thức đến Sai Gon, vừa đến nơi Gracey đã lập tức đưa ra một loạt các lệnh: “déng cửa tất cả các báo tiếng Việt (nhưng vẫn cho phép báo chí và đài phát thanh của Pháp tiếp tục hoạt động bình thường), cam người Việt Nam tụ họp hay biếu tinh, mang vũ khí. đòi Ủy ban nhân ddan Nam Bộ phải giao cho Anh cảng Sai Gòn, kho bom Thi Nghe, xưởng Ba Son, Khám Lớn Sài Gòn, các bót cảnh sát ở khu vực trung tâm thành pho, ra lệnh giới nghiêm từ 9 giờ 30 tối đến Š giờ 30 sáng " (Tô Huy Rita, 2010, tr. Rõ ràng, Anh không hè vào giải phóng Nam Bộ như đã hứa, trái lại Anh cùng Pháp còn bat tay nhau liên tục tiễn hành các hành động quấy rối chính quyền cách mạng từ ngày 14-9 đến 22-9-1945. Ngoài ra phía Anh, Pháp còn tô chức các 30 buôi họp bao, tuyên bố rằng lực lượng Việt Minh không hè đại điện cho nhân dan Việt Nam.
răng Pháp có nhiệm vụ phải thành lập một chính phủ tại vùng đất Nam Bộ này. Nhằm hỗ trợ Pháp. phía Anh tuyên bố nắm giữ quyền kiểm soát Sài Gòn. đòi đặt “Quéc gia tự vệ cuộc” (lực lượng công an) phải năm dưới sự chỉ huy của mình.
Tính đến trước ngày 22-9-1945, cá lực lượng Anh, Pháp và Nhật có mặt trên đất Nam Bộ đã lên con số tới hơn 10. Dưới hàng loạt sự giúp sức từ phía Anh, Pháp quyết định nỗ súng vào đêm ngày 22 rạng sáng ngày 23-9-1945 tập kích vào các công sở của ta như: “Uy ban Nhân dân Nam Bo, Sở Cảnh sát, Sở Bưu điện, Dai phát thanh, Ngân hàng, Nha đèn và Khám lớn Sài Gòn,.rồi tiến qua cau Thị Nghè, cầu Bông, cau Kiệu, cầu Khánh Hội, cầu Mac Mahon (nay là cau Nguyễn Văn Troi)” (Trần Nam tiễn, 2013, tr. Trước hành động ngang ngược của thực dan Pháp, cùng ngày hôm ấy, Xứ ủy Nam Kì và Ủy ban nhân dân Nam Bộ phát động ngay cuộc kháng chiến, kêu gọi toàn dan đứng lên đánh đuôi quân Pháp, *Độc lập hay là chết. Tat cá dong bào, già, trẻ, trai, gái, hãy cam vũ khí xông lên đánh đuổi quân xâm lược.
Từ giây phút này, nhiệm vụ hàng đâu của chúng ta là điệt giặc Pháp và tiêu diét tay sai của ching” (Hòa Binh, 2019). Tiếng súng kháng chiến ở Sài Gòn - Chợ Lớn đã gây chắn động cả nước, thanh niên miền Bắc và miền Trung tình nguyện lên đường vào Nam đánh giặc, phong trào Nam tiễn xuất hiện khắp nơi. Đến tháng 10/1945. cuộc kháng chiến lan rộng khắp Nam Bộ và mở ra đến các tỉnh Nam Trung Bộ.
Đâu đâu, giặc Pháp cũng vấp phải sức kháng cự quyết liệt của quân và dan Việt Nam. Thực dân Pháp phá hoại Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 và Tạm ước 14- 9-1946 1. Thực dân Pháp thực hiện “trưng cầu dan ¥” ở Nam Bộ Trước hàng loạt các hành động phá hoại Tac ước của thực dân Pháp, Chủ tịch Hỗ Chi Minh cho rằng: “Ngwdi ta báo rằng quân đội Pháp chỉ dùng dé lập lại hòa bình, trật tự. Sw thực là ở đâu không có quan đội Pháp thì không có xung đội, mà rất có hòa bình, trật tự" (Hồ Chí Minh, tập 5, 2011, tr.
31 Người khẳng định trong bức thư Người gửi đến Chính phủ Pháp, nghị viện Pháp cùng nhân dan Pháp và các nước dân chu trên thé giới rang: “Bon thực dân Pháp cổ ý phá hoại hòa bình, cố ý phá hoại những hiệp ước đó. Chúng muốn cướp nước Việt Nam một lan nữa, bắt dan Việt Nam làm nô lệ một lần nữa" (Hồ Chí Minh, tập 5, 2011, tr. Sau khi đã ôn định việc tái chiếm Nam Bộ (thực chat là chi ở trong nội thành), ngày 4-2-1946, Cao Ủy D’argenlieu ký Nghị Định thành lập Hội đồng tư vấn Nam Kỳ (Conseil Consulatif de Cochinchine). Lúc ban đầu hội đồng này chỉ có “4 người Pháp, 8 người Việt Nam trong số ấy đã có 7 người nhập tịch dân Pháp" (Thư viện quốc gia Việt Nam, Số 39, 8 Thang Sáu 1946 - "Nam kỳ tự trị").
Cụ thê các thành viên gồm: I, Joseph Béziat (Luật sw) 2. Tran Van Phát (Y¥ si) 7. Tran Thién Vang (Nghiệp Chu) 8. Lé Van Dinh (Dién Chi ) 9, Nguyễn Thành Lập (Đồng lý Việt Nam Ngân Hàng) 10.
Nguyễn Tấn Cường (Nghiệp Chủ) 11. Hỗ Van Trung (Đốc Phủ Sứ) tức nhà văn Hồ Biéu Chánh (Vương Kim Hùng, 2016). Những người Việt Nam nằm trong Hội đồng tư vấn Nam Kỳ không chỉ nhập quốc tịch Pháp mà còn là những người giàu có với những quyền lợi gắn liên với người Pháp lúc bay giờ. Có thé nói, du trên danh nghĩa là người Việt Nam nhưng quyền lợi lại bị buộc chặt với Pháp, hay nói cách khác những người đó chăng khác gì người Pháp.
Hội đồng này sau đó đã dé cử Nguyễn Văn Thinh làm 32 Thủ tướng “Chính phủ lâm thời Cộng hòa Nam Ky”, day nhanh tiến trình thành lập một Chính phủ Nam Ky tự tri. Trong khi Pháp và Anh đang đánh chiếm Nam Bộ. ở phía Bắc Việt Nam hiện tại phải đối mặt với sự điện hiện của hơn 20 vạn quân của Tưởng Giới Thạch. Quân Tưởng tiền vào Việt Nam mặc dù trên danh nghĩa giải giáp quan Nhật nhưng thực tế chính là âm mưu lật đỗ chính quyền nhân dân, lập một chính phủ phản động làm tay sai cho mình.
Chính vì vậy, ngay khi mới tiễn vào quân Tưởng đã kéo theo những thành phan phản động sống lưu vong tai Trung Quốc như “lic lượng Việt Quốc do Vũ Hồn g Khanh, Nguyễn Tưởng Tam cam dau và Việt Cách do Nguyễn Hải Than nam giữ` (Lê Mậu Han, 2001, tr. Với tình hình trên, Pháp nếu muốn tiến tiếp vào Bắc Bộ, nhưng phải có sự đồng ý của quân Tưởng. Day chính là khó khăn thứ ba mà thực dân Pháp vướng phải khí muốn xâm lược Việt Nam mà tôi đã đề cập ở phía trên. May man cho quân Pháp là vào thời điểm này Hồng Quân Trung Quốc liên tục phản công trên nhiều mặt trận tại chính Trung Quốc khiến Chính phủ Tưởng Giới Thạch đang gặp nhiều khó khăn, Tưởng buộc phải rút về dé củng cô lực lượng.
Nhận thấy tình hình trên, phía Pháp nhanh chóng tiến hành các cuộc đàm phán với quân Tưởng. Ý định của Pháp là lợi dụng tình hình đê ký với Trung Hoa dân quốc một hiệp định mà theo đó Pháp có thé đưa quân ra Bắc, sau đó tiến hành điều đình với Chính phủ Việt Nam trên lập trường Pháp sẽ là người nắm quyền chủ động. Ngày 19-9-1941, De Gaulle đến gặp gỡ Thủ tướng Chính phủ Trung Hoa dan quốc lúc bay giờ là Tống Tử Văn và đặt van dé vẻ việc Pháp thay thé cho quân Tưởng tại Bắc Việt Nam. Các cuộc đảm phán của Pháp - Hoa kéo dài đến tận ngày 28-2-1946 mới chính thức ký được Hiệp ước Trùng Khánh.
Theo đó: Quân đội Pháp sẽ thay thé quân đội Tưởng ở miễn Bắc Đông Dương trong khoảng từ ngày I đến ngày 15-3 và phải hoàn tat việc thay quân chậm nhất là ngày 31-3-1946. Doi lai, Pháp dong ý trả lại các tô giới và nhượng địa trên đất Trung Hoa, bán lại đoạn đường sắt Côn Minh - Hỗ Kiêu và cho Trung Quốc chở hàng về nước, miền thuế qua cảng Hai Phòng. Đứng dau 33 Lư Hán khi ông này được điều về làm Tỉnh trưởng Vân Nam) có trách nhiệm thi hành Hiệp tớc Pháp - Hoa (Đình Thị Thu Cúc, 2017, tr. Hiệp ước Trùng Khánh cùng việc ham đội do tướng Leclere chỉ huy bắt đầu tiễn vào Vịnh Bắc Bộ đã đặt Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước một sự lựa chọn mang tính chất quyết định sống còn: đánh hay hòa.
Sau nhiều lần thương thảo, cuối cùng phía bên Việt Nam đã lựa chọn chiến lược “Hoa đề tiễn”, tiến hành tiếp xúc thương lượng với phía Pháp nhằm tranh thủ chút thời gian chuẩn bị lực lượng kháng chiến. Pháp nhận ra được răng sẽ rat khó khăn dé tiến vào miền Bắc mà không có sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vì vậy đông ý tiền hành thương lượng với Việt Nam, tuy nhiên mọi cuộc thương thảo đều đi vào bề tắc. Phía Việt Nam yêu cau Pháp công nhận hai chữ độc lập tại Việt Nam, thừa nhận việc thông nhất ba kỳ. Phía Pháp hoàn toàn không chịu đáp ứng, theo Pháp “van đề Nam Bộ” phải để cho nhân đân Nam Bộ tự chịu trách nhiệm về tương lai của mình, còn về việc độc lập thì Pháp lại luôn lách bằng các hình thức khác như: "độc lập trong Liên bang Đông Dương, độc lập trong khối Liên hiệp Pháp, độc lập phù hợp với sự duy trì của Liên bang Đông Dương một bên, khối Liên hiệp Pháp một bên, tự trị trong Liên bang Đông Dương.
một Liên bang cũng được hưởng nên độc lập rộng rãi nhất trong khối Liên hiệp Pháp” (Lưu Văn Lợi và Nguyễn Hong Thạch, 2002, tr. Hai bên Việt Pháp liên tục trong thé đối thoại gidng co một thời gian dai, cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một sáng kiến và được Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tán thành.