Khóa luận tốt nghiệp lịch sử tìm hiểu phong trào đấu tranh trên lĩnh vực báo chí chống thực dân pháp chia cắt nam bộ giai đoạn 1946 1950

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp lịch sử tìm hiểu phong trào đấu tranh trên lĩnh vực báo chí chống thực dân pháp chia cắt, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

138
6
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1. Lịch sử nghiên cứu

1.2. Nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

2. CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG ĐẤU TRANH CỦA PHONG TRÀO “BÁO CHÍ THỐNG NHẤT”

2.1. Định hướng và nội dung đấu tranh của phong trào “Báo chí thống nhất”

2.2. Lên án thực dân Pháp phá hoại Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 và Tạm ước

2.3. Kêu gọi nhân dân ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuộc kháng chiến vì độc lập thống nhất đất nước

2.4. Thái độ của nhân dân Nam Bộ và thực dân Pháp đối với phong trào “Báo chí thống nhất”

3. CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA PHONG TRÀO “BÁO CHÍ THỐNG NHẤT” ĐẾN THỦ ĐOẠN CHIA CẮT NAM BỘ CỦA THỰC DÂN PHÁP

3.1. Phong trào “Báo chí thống nhất” góp phần tạo nên thắng lợi trong phong trào đấu tranh chính trị ở Nam Bộ

3.2. Phong trào “Báo chí thống nhất” góp phần giành thắng lợi trong phong trào đấu tranh đòi Pháp thực hiện Hiệp định Sơ bộ 6-3 và Tạm ước 14-9

3.3. Phong trào “Báo chí thống nhất” góp phần tuyên truyền vận động nhân dân Pháp và nhân dân tiến bộ thế giới lên án cuộc chiến tranh xâm lược

TÀI LIỆU THAM KHẢO

LỜI CAM ĐOAN

Tóm tắt

I. Tổng quan về phong trào đấu tranh báo chí chống thực dân Pháp

Phong trào đấu tranh trên lĩnh vực báo chí chống thực dân Pháp tại Nam Bộ giai đoạn 1946-1950 là một phần quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Thời kỳ này, báo chí không chỉ là công cụ truyền thông mà còn là vũ khí sắc bén trong cuộc chiến chống lại sự áp bức của thực dân. Các tờ báo đã đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia kháng chiến, đồng thời phản ánh chân thực tình hình đất nước.

1.1. Bối cảnh lịch sử và sự ra đời của phong trào

Phong trào đấu tranh báo chí ra đời trong bối cảnh Việt Nam vừa giành được độc lập nhưng lại phải đối mặt với âm mưu tái chiếm của thực dân Pháp. Sự kiện này đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho báo chí cách mạng phát triển, nhằm phản ánh và đấu tranh chống lại các chính sách của thực dân.

1.2. Vai trò của báo chí trong phong trào đấu tranh

Báo chí đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Các tờ báo như 'Báo chí thống nhất' đã kêu gọi nhân dân đoàn kết, kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng thời phản ánh những khó khăn, thách thức mà nhân dân phải đối mặt.

II. Những thách thức trong phong trào đấu tranh báo chí giai đoạn 1946 1950

Trong giai đoạn 1946-1950, phong trào đấu tranh báo chí phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Thực dân Pháp không chỉ đàn áp mạnh mẽ các hoạt động báo chí mà còn tìm cách kiểm soát thông tin để duy trì quyền lực. Điều này đã tạo ra một môi trường khó khăn cho các nhà báo và những người làm truyền thông.

2.1. Sự đàn áp của thực dân Pháp đối với báo chí

Thực dân Pháp đã thực hiện nhiều biện pháp đàn áp nhằm kiểm soát thông tin, như bắt bớ, cấm xuất bản các tờ báo cách mạng. Điều này đã gây khó khăn cho việc truyền tải thông tin và ý kiến của nhân dân.

2.2. Tình hình chính trị và xã hội ảnh hưởng đến báo chí

Tình hình chính trị bất ổn và các cuộc xung đột vũ trang đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động của báo chí. Nhiều nhà báo phải đối mặt với nguy hiểm, thậm chí hy sinh trong cuộc đấu tranh vì tự do thông tin.

III. Phương pháp đấu tranh của phong trào báo chí chống thực dân Pháp

Phong trào đấu tranh báo chí đã áp dụng nhiều phương pháp sáng tạo để đối phó với sự đàn áp của thực dân Pháp. Các nhà báo đã sử dụng nhiều hình thức truyền thông khác nhau để truyền tải thông điệp kháng chiến đến nhân dân.

3.1. Tuyên truyền qua các tờ báo cách mạng

Các tờ báo cách mạng đã được phát hành rộng rãi, cung cấp thông tin về tình hình kháng chiến, kêu gọi nhân dân tham gia đấu tranh. Nội dung báo chí thường xuyên nhấn mạnh tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc.

3.2. Sử dụng các hình thức nghệ thuật trong truyền thông

Ngoài báo chí, các hình thức nghệ thuật như thơ ca, tranh vẽ cũng được sử dụng để truyền tải thông điệp kháng chiến. Những tác phẩm này không chỉ mang tính nghệ thuật mà còn có sức mạnh tuyên truyền lớn.

IV. Kết quả và ảnh hưởng của phong trào báo chí giai đoạn 1946 1950

Phong trào đấu tranh báo chí đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của nhân dân về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Những thông điệp từ báo chí đã góp phần tạo ra sự đồng thuận và đoàn kết trong nhân dân.

4.1. Tăng cường tinh thần yêu nước trong nhân dân

Báo chí đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao tinh thần yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc. Những bài viết, thông điệp từ báo chí đã tạo động lực cho nhân dân tham gia kháng chiến.

4.2. Đóng góp vào thắng lợi của cuộc kháng chiến

Phong trào báo chí đã góp phần không nhỏ vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Những thông tin, tuyên truyền từ báo chí đã giúp nhân dân hiểu rõ hơn về mục tiêu và ý nghĩa của cuộc đấu tranh.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của phong trào báo chí

Phong trào đấu tranh báo chí chống thực dân Pháp giai đoạn 1946-1950 không chỉ là một phần của lịch sử mà còn là bài học quý giá cho các thế hệ sau. Những giá trị mà phong trào này mang lại vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.

5.1. Bài học từ phong trào báo chí

Phong trào báo chí đã để lại nhiều bài học quý giá về sự kiên trì, sáng tạo trong đấu tranh. Những kinh nghiệm này có thể áp dụng vào các phong trào đấu tranh hiện nay.

5.2. Tương lai của báo chí cách mạng Việt Nam

Báo chí cách mạng Việt Nam cần tiếp tục phát huy vai trò của mình trong việc tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức của nhân dân về các vấn đề xã hội, chính trị hiện nay.

09/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp lịch sử tìm hiểu phong trào đấu tranh trên lĩnh vực báo chí chống thực dân pháp chia cắt nam bộ giai đoạn 1946 1950

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho kỷ nguyên mới này, nhân dân Nam Bộ khắp nơi ta xuống đường chào mừng ngày Quốc khánh. Chính trong khoảnh khắc thiêng liêng ấy, quân Pháp từ trên lầu cao bên cạnh nhà thờ Đức Bà đã nỗ súng vào đoàn thường dân đang ăn mừng làm 47 người chết và nhiều người bị thương. Tiếp đó, thực dân Pháp liên tục đưa quân tiền vào Nam bộ thực hiện tái chiếm nơi đây. Từ ngày 6 đến ngày 11-9-1945, quân Anh dưới sự chỉ đạo của tướng Douglas David Gracey đã đưa một lữ đoàn vào Sài Gòn dưới danh nghĩa quân Đông Minh vào giải giáp quân Nhật, giải phóng Nam Bộ.

Theo sau lữ đoàn quân Anh, thực dan Pháp lén lút đưa một tiêu đoàn biệt kích gồm 120 lính Pháp vào Nam Bộ. Ngay sau khi đặt chân xuống Nam Bộ, quân Anh thay vì giải giáp quân Nhật như đã nói thì lại tiến hành thả các tù binh Pháp bị Nhật bắt giữ trước đây, trang bị vũ khí cho những tù binh đó. Tướng Anh Gracey còn lên tiếng chỉ trích Uy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ khi không giữ được an ninh, sau đó đưa bảy tiéu đoàn lính Nhật về Sài Gòn với lí do “lặp lại trật tự”. Thậm chí quan Anh cho thả cả những tên lính Pháp gây ra vụ khiêu khích ngày 2-9-1945, đòi chiếm lay trụ sở Ủy ban Hành chính Nam Bộ và buộc phải công nhận tên Cédile làm Thống đốc Nam Kỳ.

Ngày 11-9-1945, Douglas David Gracey chính thức đến Sai Gon, vừa đến nơi Gracey đã lập tức đưa ra một loạt các lệnh: “déng cửa tất cả các báo tiếng Việt (nhưng vẫn cho phép báo chí và đài phát thanh của Pháp tiếp tục hoạt động bình thường), cam người Việt Nam tụ họp hay biếu tinh, mang vũ khí. đòi Ủy ban nhân ddan Nam Bộ phải giao cho Anh cảng Sai Gòn, kho bom Thi Nghe, xưởng Ba Son, Khám Lớn Sài Gòn, các bót cảnh sát ở khu vực trung tâm thành pho, ra lệnh giới nghiêm từ 9 giờ 30 tối đến Š giờ 30 sáng " (Tô Huy Rita, 2010, tr. Rõ ràng, Anh không hè vào giải phóng Nam Bộ như đã hứa, trái lại Anh cùng Pháp còn bat tay nhau liên tục tiễn hành các hành động quấy rối chính quyền cách mạng từ ngày 14-9 đến 22-9-1945. Ngoài ra phía Anh, Pháp còn tô chức các 30 buôi họp bao, tuyên bố rằng lực lượng Việt Minh không hè đại điện cho nhân dan Việt Nam.

răng Pháp có nhiệm vụ phải thành lập một chính phủ tại vùng đất Nam Bộ này. Nhằm hỗ trợ Pháp. phía Anh tuyên bố nắm giữ quyền kiểm soát Sài Gòn. đòi đặt “Quéc gia tự vệ cuộc” (lực lượng công an) phải năm dưới sự chỉ huy của mình.

Tính đến trước ngày 22-9-1945, cá lực lượng Anh, Pháp và Nhật có mặt trên đất Nam Bộ đã lên con số tới hơn 10. Dưới hàng loạt sự giúp sức từ phía Anh, Pháp quyết định nỗ súng vào đêm ngày 22 rạng sáng ngày 23-9-1945 tập kích vào các công sở của ta như: “Uy ban Nhân dân Nam Bo, Sở Cảnh sát, Sở Bưu điện, Dai phát thanh, Ngân hàng, Nha đèn và Khám lớn Sài Gòn,.rồi tiến qua cau Thị Nghè, cầu Bông, cau Kiệu, cầu Khánh Hội, cầu Mac Mahon (nay là cau Nguyễn Văn Troi)” (Trần Nam tiễn, 2013, tr. Trước hành động ngang ngược của thực dan Pháp, cùng ngày hôm ấy, Xứ ủy Nam Kì và Ủy ban nhân dân Nam Bộ phát động ngay cuộc kháng chiến, kêu gọi toàn dan đứng lên đánh đuôi quân Pháp, *Độc lập hay là chết. Tat cá dong bào, già, trẻ, trai, gái, hãy cam vũ khí xông lên đánh đuổi quân xâm lược.

Từ giây phút này, nhiệm vụ hàng đâu của chúng ta là điệt giặc Pháp và tiêu diét tay sai của ching” (Hòa Binh, 2019). Tiếng súng kháng chiến ở Sài Gòn - Chợ Lớn đã gây chắn động cả nước, thanh niên miền Bắc và miền Trung tình nguyện lên đường vào Nam đánh giặc, phong trào Nam tiễn xuất hiện khắp nơi. Đến tháng 10/1945. cuộc kháng chiến lan rộng khắp Nam Bộ và mở ra đến các tỉnh Nam Trung Bộ.

Đâu đâu, giặc Pháp cũng vấp phải sức kháng cự quyết liệt của quân và dan Việt Nam. Thực dân Pháp phá hoại Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 và Tạm ước 14- 9-1946 1. Thực dân Pháp thực hiện “trưng cầu dan ¥” ở Nam Bộ Trước hàng loạt các hành động phá hoại Tac ước của thực dân Pháp, Chủ tịch Hỗ Chi Minh cho rằng: “Ngwdi ta báo rằng quân đội Pháp chỉ dùng dé lập lại hòa bình, trật tự. Sw thực là ở đâu không có quan đội Pháp thì không có xung đội, mà rất có hòa bình, trật tự" (Hồ Chí Minh, tập 5, 2011, tr.

31 Người khẳng định trong bức thư Người gửi đến Chính phủ Pháp, nghị viện Pháp cùng nhân dan Pháp và các nước dân chu trên thé giới rang: “Bon thực dân Pháp cổ ý phá hoại hòa bình, cố ý phá hoại những hiệp ước đó. Chúng muốn cướp nước Việt Nam một lan nữa, bắt dan Việt Nam làm nô lệ một lần nữa" (Hồ Chí Minh, tập 5, 2011, tr. Sau khi đã ôn định việc tái chiếm Nam Bộ (thực chat là chi ở trong nội thành), ngày 4-2-1946, Cao Ủy D’argenlieu ký Nghị Định thành lập Hội đồng tư vấn Nam Kỳ (Conseil Consulatif de Cochinchine). Lúc ban đầu hội đồng này chỉ có “4 người Pháp, 8 người Việt Nam trong số ấy đã có 7 người nhập tịch dân Pháp" (Thư viện quốc gia Việt Nam, Số 39, 8 Thang Sáu 1946 - "Nam kỳ tự trị").

Cụ thê các thành viên gồm: I, Joseph Béziat (Luật sw) 2. Tran Van Phát (Y¥ si) 7. Tran Thién Vang (Nghiệp Chu) 8. Lé Van Dinh (Dién Chi ) 9, Nguyễn Thành Lập (Đồng lý Việt Nam Ngân Hàng) 10.

Nguyễn Tấn Cường (Nghiệp Chủ) 11. Hỗ Van Trung (Đốc Phủ Sứ) tức nhà văn Hồ Biéu Chánh (Vương Kim Hùng, 2016). Những người Việt Nam nằm trong Hội đồng tư vấn Nam Kỳ không chỉ nhập quốc tịch Pháp mà còn là những người giàu có với những quyền lợi gắn liên với người Pháp lúc bay giờ. Có thé nói, du trên danh nghĩa là người Việt Nam nhưng quyền lợi lại bị buộc chặt với Pháp, hay nói cách khác những người đó chăng khác gì người Pháp.

Hội đồng này sau đó đã dé cử Nguyễn Văn Thinh làm 32 Thủ tướng “Chính phủ lâm thời Cộng hòa Nam Ky”, day nhanh tiến trình thành lập một Chính phủ Nam Ky tự tri. Trong khi Pháp và Anh đang đánh chiếm Nam Bộ. ở phía Bắc Việt Nam hiện tại phải đối mặt với sự điện hiện của hơn 20 vạn quân của Tưởng Giới Thạch. Quân Tưởng tiền vào Việt Nam mặc dù trên danh nghĩa giải giáp quan Nhật nhưng thực tế chính là âm mưu lật đỗ chính quyền nhân dân, lập một chính phủ phản động làm tay sai cho mình.

Chính vì vậy, ngay khi mới tiễn vào quân Tưởng đã kéo theo những thành phan phản động sống lưu vong tai Trung Quốc như “lic lượng Việt Quốc do Vũ Hồn g Khanh, Nguyễn Tưởng Tam cam dau và Việt Cách do Nguyễn Hải Than nam giữ` (Lê Mậu Han, 2001, tr. Với tình hình trên, Pháp nếu muốn tiến tiếp vào Bắc Bộ, nhưng phải có sự đồng ý của quân Tưởng. Day chính là khó khăn thứ ba mà thực dân Pháp vướng phải khí muốn xâm lược Việt Nam mà tôi đã đề cập ở phía trên. May man cho quân Pháp là vào thời điểm này Hồng Quân Trung Quốc liên tục phản công trên nhiều mặt trận tại chính Trung Quốc khiến Chính phủ Tưởng Giới Thạch đang gặp nhiều khó khăn, Tưởng buộc phải rút về dé củng cô lực lượng.

Nhận thấy tình hình trên, phía Pháp nhanh chóng tiến hành các cuộc đàm phán với quân Tưởng. Ý định của Pháp là lợi dụng tình hình đê ký với Trung Hoa dân quốc một hiệp định mà theo đó Pháp có thé đưa quân ra Bắc, sau đó tiến hành điều đình với Chính phủ Việt Nam trên lập trường Pháp sẽ là người nắm quyền chủ động. Ngày 19-9-1941, De Gaulle đến gặp gỡ Thủ tướng Chính phủ Trung Hoa dan quốc lúc bay giờ là Tống Tử Văn và đặt van dé vẻ việc Pháp thay thé cho quân Tưởng tại Bắc Việt Nam. Các cuộc đảm phán của Pháp - Hoa kéo dài đến tận ngày 28-2-1946 mới chính thức ký được Hiệp ước Trùng Khánh.

Theo đó: Quân đội Pháp sẽ thay thé quân đội Tưởng ở miễn Bắc Đông Dương trong khoảng từ ngày I đến ngày 15-3 và phải hoàn tat việc thay quân chậm nhất là ngày 31-3-1946. Doi lai, Pháp dong ý trả lại các tô giới và nhượng địa trên đất Trung Hoa, bán lại đoạn đường sắt Côn Minh - Hỗ Kiêu và cho Trung Quốc chở hàng về nước, miền thuế qua cảng Hai Phòng. Đứng dau 33 Lư Hán khi ông này được điều về làm Tỉnh trưởng Vân Nam) có trách nhiệm thi hành Hiệp tớc Pháp - Hoa (Đình Thị Thu Cúc, 2017, tr. Hiệp ước Trùng Khánh cùng việc ham đội do tướng Leclere chỉ huy bắt đầu tiễn vào Vịnh Bắc Bộ đã đặt Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước một sự lựa chọn mang tính chất quyết định sống còn: đánh hay hòa.

Sau nhiều lần thương thảo, cuối cùng phía bên Việt Nam đã lựa chọn chiến lược “Hoa đề tiễn”, tiến hành tiếp xúc thương lượng với phía Pháp nhằm tranh thủ chút thời gian chuẩn bị lực lượng kháng chiến. Pháp nhận ra được răng sẽ rat khó khăn dé tiến vào miền Bắc mà không có sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vì vậy đông ý tiền hành thương lượng với Việt Nam, tuy nhiên mọi cuộc thương thảo đều đi vào bề tắc. Phía Việt Nam yêu cau Pháp công nhận hai chữ độc lập tại Việt Nam, thừa nhận việc thông nhất ba kỳ. Phía Pháp hoàn toàn không chịu đáp ứng, theo Pháp “van đề Nam Bộ” phải để cho nhân đân Nam Bộ tự chịu trách nhiệm về tương lai của mình, còn về việc độc lập thì Pháp lại luôn lách bằng các hình thức khác như: "độc lập trong Liên bang Đông Dương, độc lập trong khối Liên hiệp Pháp, độc lập phù hợp với sự duy trì của Liên bang Đông Dương một bên, khối Liên hiệp Pháp một bên, tự trị trong Liên bang Đông Dương.

một Liên bang cũng được hưởng nên độc lập rộng rãi nhất trong khối Liên hiệp Pháp” (Lưu Văn Lợi và Nguyễn Hong Thạch, 2002, tr. Hai bên Việt Pháp liên tục trong thé đối thoại gidng co một thời gian dai, cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một sáng kiến và được Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tán thành.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về các giai đoạn kháng chiến của Việt Nam chống lại thực dân Pháp và Mỹ, nhấn mạnh vai trò của các nhân vật lịch sử và các phong trào đấu tranh của nhân dân. Đặc biệt, nó làm nổi bật những đóng góp quan trọng của các tổ chức và cá nhân trong việc bảo vệ độc lập và tự do cho đất nước.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ đảng lãnh đạo liên minh chiến đấu việt nam với lào trong kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược 1945 1954, nơi phân tích sự hợp tác giữa Việt Nam và Lào trong cuộc kháng chiến. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ vai trò của đại tướng võ nguyên giáp với cuộc kháng chiến chống mỹ giai đoạn 1965 1975 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của một trong những nhà lãnh đạo quân sự vĩ đại nhất của Việt Nam. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ căn cứ kháng chiến khu sài gòn gia định trong kháng chiến chống mỹ 1954 1975 sẽ cung cấp cái nhìn chi tiết về các căn cứ kháng chiến quan trọng trong giai đoạn này. Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn giúp bạn hiểu sâu hơn về lịch sử kháng chiến của Việt Nam.