Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Vấn đề nghiên cứu Căn cứ kháng chiến là địa bàn do lực lượng cách mạng làm chủ, tương đối an toàn (có thể là vùng giải phóng hoặc căn cứ du kích đã được xây dựng vững chắc); có địa thế phòng thủ được chọn để làm bàn đạp xây dựng và phát triển lực lượng; nơi đứng chân của các đơn vị, cơ quan chỉ huy, chỉ đạo chiến tranh; nơi tập kết lực lượng chuẩn bị và xuất phát những trận đánh vào đối phương; nơi thu quân và củng cố thực lực, nơi tiếp nhận và cung cấp hậu cần cho các hoạt động chiến tranh. Lịch sử xây dựng và phát triển căn cứ kháng chiến luôn luôn gắn liền với hoạt động quân sự diễn ra ở bên trong và bên ngoài căn cứ. Đó là nơi giao tranh quyết liệt giữa một bên là kẻ địch mưu toan tiêu diệt cơ quan lãnh đạo kháng chiến, tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng, xóa sạch căn cứ, một bên là lực lượng kháng chiến quyết tâm giữ vững căn cứ, bảo toàn lực lượng, và từ đó làm chỗ dựa mở rộng phạm vi hoạt động quân sự, tiến công vào hậu phương của địch.
Theo Lê-nin: “Những quân đội lớn nhất, những quân đội được trang bị tốt nhất đều đã bị tan rã và biến thành tro bụi vì không có hậu phương vững chắc, không có sự ủng hộ và sự đồng tình của nhân dân lao động” [127, tr. Do đó, “muốn tiến hành chiến tranh một cách thực sự, phải có một hậu phương được tổ chức vững chắc” [128, tr. Từ rất sớm, trong đường lối đấu tranh vũ tranh cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã hết sức chú ý đến vai trò của căn cứ địa1. Trong tác phẩm Cách đánh du kích viết khoảng năm 1941, Hồ Chí Minh cho rằng “đội du kích trong lúc hoạt động đánh quân thù cần có một vài nơi đứng chân làm cơ sở.
Tại nơi ấy, đội du kích tích trữ lương thực, thuốc đạn, lâu lâu về đó nghỉ ngơi, luyện tập. Nơi ấy phải có địa thế hiểm yếu che chở và quần chúng cảm tình ủng hộ”; trên cơ sở của căn cứ địa, “đội du kích nhờ đó mà phát triển lực lượng và hoá ra quân chính quy”. 209] Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, căn cứ địa là hậu phương trực tiếp và tại chỗ của chiến tranh cách mạng. 1 Trong phạm vi luận án, tác giả sử dụng khái niệm “căn cứ kháng chiến” (sử dụng phổ biến trong kháng chiến chống Mỹ) với nội hàm nghĩa tương đương với khái niệm “căn cứ địa” (được sử dụng phổ biến trong giai đoạn tiền khởi nghĩa (1930-1945) và kháng chiến chống Pháp (1945-1954).
8 “Căn cứ địa cách mạng là những vùng giải phóng xuất hiện trong vòng vây của địch, cách mạng dựa vào đó để tích luỹ và phát triển lực lượng của mình về mọi mặt, tạo thành những trận địa vững chắc về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, lấy đó làm nơi xuất phát để mở rộng dần ra, cuối cùng tiến lên đánh bại kẻ thù lớn mạnh, giải phóng hoàn toàn đất nước. Căn cứ địa là chỗ đứng chân của cách mạng, đồng thời là chỗ dựa để xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, đẩy mạnh đấu tranh vũ trang cách mạng, trên ý nghĩa đó, nó cũng là hậu phương của chiến tranh cách mạng” [106, tr. Tổng Bí thư Trường Chinh (trên báo Cờ giải phóng, số ra ngày 17/7/1945), xác định: Căn cứ kháng chiến “là chỗ đóng của quân du kích để tiến có thể đánh quân địch, lui có thể giữ được thực lực của mình. Nói cách khác, căn cứ kháng chiến là nơi có thế hiểm yếu, vừa lợi cho việc tiến công, vừa lợi cho việc phòng ngự của quân du kích”[72, tr.
Theo đó, để xây dựng một căn cứ kháng chiến cần phải đảm bảo những điều kiện sau: 1. Điều kiện địa lý: Địa thế hiểm trở có thể che chở cho bộ đội, trong khi phòng ngự hay rút lui, quân địch không thể tiến đánh một cách dễ dàng. Điều kiện quân sự: Vị trí tiện cho việc tiến công quân địch, không xa những chỗ nhất định quân địch phải đóng giữ hoặc qua lại. Điều kiện kinh tế: Thổ sản có thể cung cấp cho bộ đội sống, mặc dù bị quân địch vây hãm.
Điều kiện chính trị: Tổ chức cách mạng trong quần chúng khá mạnh, có thể giúp đỡ bộ đội về mọi mặt.332-333] Trong Thư vào Nam, Tổng Bí thư Lê Duẩn xem vấn đề xây dựng căn cứ kháng chiến là nhiệm vụ hàng đầu để đưa cách mạng miền Nam đi từ “khởi nghĩa bộ phận, lập căn cứ địa, có chiến tranh du kích, rồi tiến lên tổng khởi nghĩa” [103, tr. Các tác giả của bộ sách Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam cho rằng, khác với căn cứ kháng chiến của nhiều nước trên thế giới trong chiến tranh hiện đại, tư tưởng về xây dựng căn cứ kháng chiến – hậu phương chiến tranh cách mạng Việt Nam đòi hỏi việc xây dựng căn cứ kháng chiến phải đáp ứng các điều kiện cơ bản sau: - Là nơi có vị trí chiến lược trọng yếu để tiến có thể đánh, lui có thể giữ; có đường giao thông, liên lạc thuận tiện cả trong nước và quốc tế. 9 - Là nơi có nhiều cơ sở cách mạng vững chắc, có nền dân chủ nhân dân và phong trào quần chúng phát triển mạnh mẽ, sâu rộng. - Là nơi có điều kiện thực hiện kinh tế tự cấp, tự túc, đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu về hậu cần tại chỗ.
- Là nơi mà bộ máy chính quyền của địch mỏng, yếu và lỏng lẻo, có lợi cho hoạt động của lực lượng vũ trang cách mạng, bất lợi cho hoạt động của chính quyền địch.375-376] Như vậy, “căn cứ kháng chiến” có thể được hiểu là [100, tr. Những khu vực tập kết các cơ quan đầu não và lực lượng kháng chiến; nơi đứng chân và tổ chức chiến đấu, bảo vệ các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy. Ở những nơi thuận lợi, căn cứ kháng chiến có thể là nơi củng cố và huấn luyện các lực lượng vũ trang cách mạng của toàn miền, khu và các địa phương tỉnh, huyện. Địa thế, lòng dân và chiến thuật bố trí phòng thủ hợp lý sẽ làm cho các căn cứ kháng chiến trở thành “mái nhà an toàn” cho các lực lượng kháng chiến.
Là chỗ dựa tin cậy của các lực lượng kháng chiến với tư cách một hậu phương tại chỗ, nơi bảo đảm một phần quan trọng tiềm lực của cuộc kháng chiến. Do vậy, nội dung xây dựng căn cứ kháng chiến cũng phải tương đối toàn diện, nhằm xây dựng được hậu phương chiến tranh nhân dân tại chỗ; trong đó, chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị, cơ sở kinh tế… Nhờ vậy, căn cứ kháng chiến là nơi cung cấp một phần tiềm lực quan trọng cho cuộc kháng chiến, bảo đảm kịp thời mọi yêu cầu của chiến trường. Đồng thời, căn cứ kháng chiến còn là nơi thu nhận, tập kết sức người, sức của từ các vùng tạm chiếm. Là chỗ dựa, nơi bày thế trận tiêu diệt đối phương tại chỗ, đồng thời làm nơi xuất phát, bàn đạp cho các lực lượng kháng chiến tiến công địch ở bên ngoài căn cứ, tạo điều kiện cho phong trào du kích chiến tranh phát triển ở vùng tạm chiếm, góp phần tạo ra cục diện chiến trường ngày càng có lợi cho kháng chiến.
Là địa bàn tồn tại như một biểu tượng của cuộc kháng chiến, tiêu biểu cho ý chí, sức mạnh tinh thần của nhân dân; là chỗ dựa về mặt chính trị, nơi hướng về, hy vọng và khích lệ đồng bào khắp nơi kháng chiến. 10 Trong kháng chiến chống Mỹ, Nam bộ là chiến trường trọng điểm của cả nước, là chiến trường ác liệt của lực lượng kháng chiến với quân đội Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hoà. Trong hoàn cảnh đó, trên địa bàn Nam bộ đã hình thành một hệ thống căn cứ của lực lượng kháng chiến với nhiều quy mô, trải khắp các địa bàn, trên cả ba vùng rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị, nằm xen kẽ với vùng chiếm đóng của chính quyền Sài Gòn. Tại Sài Gòn – Gia Định, một hệ thống căn cứ kháng chiến bao quanh Sài Gòn, nằm xen kẽ theo thế trận “cài răng lược”, tạo thành thế “da báo” rất lợi hại.
Việc giữ vững và phát huy vai trò các căn cứ kháng chiến Sài Gòn – Gia Định đã góp phần quan trọng vào thắng lợi cuối cùng cuộc cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các công trình nghiên cứu trong nước Căn cứ kháng chiến là đề tài đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các cơ quan, đơn vị khoa học, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước với nhiều công trình, tác phẩm đã được công bố ở nhiều cấp độ và từ nhiều cách tiếp cận khác nhau. Có thể tạm chia các công trình đó theo ba nhóm chủ đề có liên quan đến đề tài sau đây: 1.
Nhóm các công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến Mỹ cứu nước có đề cập đến căn cứ kháng chiến Trước hết phải kể đến các công trình nghiên cứu về chiến tranh nói chung và chiến tranh cách mạng nói riêng. Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều bài viết, bài nói thể hiện quan điểm của Người về các vấn đề quân sự. Có thể kể đến các tác phẩm: Cách đánh du kích (1941, xuất bản 1944); Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân (Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1970), Về vấn đề quân sự (Sự thật, Hà Nội, 1975), Những bài viết và nói về quân sự (Quân đội Nhân dân, Hà Nội, tập 1: 1985; tập 2: 1987)… tập hợp những bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề quân sự trong chiến tranh giải phóng v.v… Bên cạnh đó, nhiều nhà lãnh đạo của Đảng, Nhà nước cũng có những bài viết phân tích các vấn đề trong chiến tranh cách mạng, trong đó nhấn mạnh đến vai trò “cầu nối” nữa chiến trường và hậu phương quần chúng.