Tổng quan luận án

Đề tài "Căn cứ kháng chiến khu Sài Gòn – Gia Định trong kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975)" là luận án Tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử (Lịch sử Việt Nam / Lịch sử chiến tranh cách mạng). Luận án tập trung nghiên cứu toàn diện hệ thống căn cứ kháng chiến tại một địa bàn chiến lược đặc biệt – nơi vừa là trung tâm đầu não chính trị, kinh tế, quân sự của đối phương, vừa là địa bàn diễn ra các cuộc đối đầu quân sự và chính trị gay gắt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong lịch sử chiến tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam ở thế kỷ XX, căn cứ kháng chiến giữ vai trò quyết định đến sự thành bại của các bên tham chiến. Căn cứ là vùng địa thế phòng thủ được lựa chọn để làm bàn đạp xây dựng và phát triển lực lượng, nơi đứng chân của các cơ quan chỉ huy, chỉ đạo chiến tranh, nơi tập kết lực lượng chuẩn bị và xuất phát các trận đánh, củng cố thực lực và cung cấp hậu cần tại chỗ.

Địa bàn Sài Gòn – Gia Định có vị trí nằm ở điểm tiếp nối giữa hai vùng địa hình đặc thù của Nam Bộ: vùng đồi núi bán cao nguyên ở miền Đông và vùng kênh rạch sông ngòi dày đặc ở miền Tây. Trong kháng chiến chống Mỹ, Sài Gòn – Gia Định là trung tâm chính trị, quân sự của chính quyền Việt Nam Cộng hòa và các lực lượng quân sự Mỹ, đồng thời là nơi các cấp ủy cách mạng tổ chức bám trụ, xây dựng thế trận căn cứ bao quanh đô thị theo hình thái "cài răng lược" và thế "da báo".

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về chiến trường Nam Bộ, căn cứ miền Đông Nam Bộ hoặc các căn cứ địa phương riêng lẻ (như Củ Chi, Rừng Sác), song cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và độc lập về quá trình hình thành, xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của toàn bộ hệ thống căn cứ kháng chiến Khu Sài Gòn – Gia Định xuyên suốt giai đoạn 1954 - 1975.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ quá trình tái lập, xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của các căn cứ kháng chiến khu Sài Gòn – Gia Định trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975); từ đó cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ công tác xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay.

Để hoàn thành mục đích trên, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Luận giải những yếu tố về điều kiện tự nhiên, lịch sử - xã hội tác động đến quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò căn cứ kháng chiến khu Sài Gòn – Gia Định.
  2. Phục dựng quá trình tái lập, xây dựng và các hoạt động của các căn cứ kháng chiến Khu Sài Gòn – Gia Định trong kháng chiến chống Mỹ.
  3. Đánh giá vai trò của căn cứ kháng chiến khu Sài Gòn – Gia Định trong kháng chiến chống Mỹ.
  4. Phân tích những đặc điểm của hệ thống căn cứ kháng chiến khu Sài Gòn – Gia Định.
  5. Đúc kết những bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò căn cứ kháng chiến ở Sài Gòn – Gia Định giai đoạn 1954 - 1975.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình tồn tại và hoạt động của hệ thống căn cứ kháng chiến trên địa bàn Sài Gòn – Gia Định trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975).
  • Phạm vi không gian: Địa bàn "Khu Sài Gòn – Gia Định" theo phân định đơn vị hành chính – quân sự của lực lượng cách mạng qua các thời kỳ lịch sử (tương ứng phần lớn với địa giới hành chính của Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay).
  • Phạm vi thời gian: Từ sau Hiệp định Genève (tháng 7/1954) đến ngày 30/4/1975.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào 4 nội dung cốt lõi: (i) Quá trình tái lập, xây dựng và phát triển về quy mô, tổ chức, lực lượng; (ii) Quá trình chiến đấu và bảo vệ căn cứ; (iii) Quá trình phát huy vai trò, tác dụng của căn cứ; (iv) Đặc điểm, vai trò và bài học kinh nghiệm lịch sử.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân tích theo các nhóm công trình trong nước và quốc tế có liên quan trực tiếp đến đề tài:

Các hướng nghiên cứu trong nước

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu tổng kết và lịch sử quân sự, lịch sử Đảng về kháng chiến chống Mỹ:

  • Các tác phẩm lý luận quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Cách đánh du kích (1941/1944), Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân (1970), Về vấn đề quân sự (1975), Những bài viết và nói về quân sự (tập 1: 1985; tập 2: 1987).
  • Công trình nghiên cứu của các nhà lãnh đạo Đảng và Quân đội: Vũ trang quần chúng cách mạng xây dựng quân đội nhân dân (1972) và Bài giảng về đường lối quân sự của Đảng (1974) của Đại tướng Võ Nguyên Giáp; Chọn căn cứ địa (1945/1976) của Tổng Bí thư Trường Chinh; Thư vào Nam của Tổng Bí thư Lê Duẩn.
  • Các công trình tổng kết chiến tranh của Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước: Thắng lợi và bài học (1995), Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 – 1975: Thắng lợi và bài học (2000).
  • Bộ công trình của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) (bộ 2 tập 1990-1991 và bộ 9 tập 1995-2012, đặc biệt là Tập IX về bài học lịch sử căn cứ kháng chiến); bộ sách Lịch sử quân sự Việt Nam (14 tập, 1999-2014, tiêu biểu là tập 11 và 12); Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975) (1997); Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam (tập 4, 2014).
  • Công trình của Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Xứ uỷ Nam bộ và Trung ương Cục Miền Nam (1954-1975) (PGS. Nguyễn Quý chủ biên, 2010), Lịch sử biên niên quân sự Xứ uỷ Nam bộ và Trung ương Cục Miền Nam (1954-1975).
  • Công trình về công tác hậu cần của Tổng cục Hậu cần: Tổng kết công tác hậu cần chiến trường Nam Bộ - cực Nam Trung Bộ (B2) trong kháng chiến chống Mỹ (1986); Lịch sử Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam (1954-1975) (2 tập, 1999); Tổng kết công tác hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) (2001).
  • Bộ thông sử Lịch sử Việt Nam (15 tập, Viện Sử học, 2013-2014, tiêu biểu là Tập 12 và Tập 13).
  • Công trình khu vực Nam Bộ và Quân khu 7: Lịch sử Nam bộ kháng chiến (2 tập cùng các tập chuyên đề và biên niên, Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử Nam bộ kháng chiến, 2012); Miền Đông Nam bộ kháng chiến (tập 1, Nguyễn Viết Tá chủ biên, 1990); Tổng kết sự hình thành và phát triển chiến thuật của lực lượng vũ trang nhân dân Quân khu 7 - miền Đông Nam Bộ (1945-1975) (Nguyễn Hữu Nguyên chủ biên, 1999); Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền (1961-1976) (2004); Cuộc kháng chiến 1945-1975 nhìn từ Nam bộ (2008) và Lịch sử miền Đông Nam bộ và cực Nam Trung bộ Kháng chiến (1945-1975) (2011) của Hồ Sơn Đài.

Nhóm 2: Các luận án và công trình nghiên cứu chuyên sâu về căn cứ kháng chiến:

  • Luận án Tiến sĩ Lịch sử của Hồ Sơn Đài: Căn cứ địa kháng chiến chống thực dân Pháp ở miền Đông Nam Bộ (1945-1954) (1995; xuất bản thành sách Chiến khu ở miền Đông Nam Bộ, 1996).
  • Luận án Tiến sĩ Lịch sử của Trần Thị Nhung: Căn cứ địa kháng chiến chống Mỹ ở miền Đông Nam Bộ (1954-1975) (2001).
  • Các luận án nghiên cứu căn cứ ở các chiến trường khác: Căn cứ địa U Minh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975) của Trần Ngọc Long (2006); Căn cứ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở cực Nam Trung Bộ (1954-1975) của Chu Đình Lộc (2011); Căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung bộ trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) của Trần Thúy Hiền (2015); Căn cứ địa ở Nam Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) của Nguyễn Xuân Sinh (2015).
  • Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu: Căn cứ địa cách mạng ở Củ Chi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975) (2009).
  • Các kỷ yếu hội thảo và chuyên khảo địa phương: Căn cứ địa cách mạng ở Tây Ninh trong chiến tranh giải phóng (1945-1975) (2002); Căn cứ địa cách mạng tỉnh Bình Thuận trong 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975) (2012).

Nhóm 3: Các công trình về phong trào cách mạng và căn cứ Sài Gòn – Gia Định:

  • Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (tập 1: Lịch sử, Trần Văn Giàu – Trần Bạch Đằng chủ biên, 1987).
  • Lịch sử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh 1930-1975 (2014); Lịch sử Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định kháng chiến (1945-1975) (2015).
  • Bộ sách Hồi ký Căn cứ kháng chiến Khu Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định (2 tập, 2014-2015).
  • Các công trình lịch sử địa phương và đơn vị: Chiến khu Rừng Sác (Lương Văn Nho, 1983); Lịch sử lực lượng vũ trang Thành phố Hồ Chí Minh (1998); Lịch sử truyền thống chiến khu An Phú Đông (2005); Lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Củ Chi (1930-1975) (2008); Vườn Thơm trong hai cuộc kháng chiến (1945-1975) (2014); các bài báo chuyên ngành của Hồ Sĩ Thành (1993), Vũ Tang Bồng (1993), Văn Tạo (1995), Trần Thị Nhung (1999), Trần Đơn (2012), Hồ Sơn Đài (2017).

Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

  • The Uncertain Trumpet của Maxwell Taylor (1959).
  • Hồi ký của Tổng thống Lyndon B. Johnson: The Vantage Point: Perspectives of the Presidency 1963-1969 (1971).
  • Hồi ký của Đại tướng William Westmoreland: A Soldier Reports (1976; bản dịch tiếng Việt: Tường trình của một quân nhân, 1988), đề cập đến chiến thuật "Tìm và Diệt" và cấu trúc chiến trường "da báo".
  • Hồi ký của Tổng thống Richard Nixon: The Memoirs of Richard Nixon (1978; bản dịch tiếng Việt, 2004).
  • Công trình của Gabriel Kolko: Anatomy of a War: Vietnam, the United States, and the Modern Historical Experience (1985; bản dịch tiếng Việt: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, 1991).

Khoảng trống luận án giải quyết

Hầu hết các công trình đã công bố tiếp cận vấn đề căn cứ kháng chiến dưới dạng tổng kết chung cho toàn miền Nam, từng quân khu hoặc đi vào các địa bàn hành chính/chiến khu riêng lẻ. Luận án này giải quyết khoảng trống nghiên cứu bằng cách đặt toàn bộ hệ thống căn cứ Khu Sài Gòn – Gia Định thành một đối tượng nghiên cứu độc lập, phân tích mối quan hệ liên hoàn giữa căn cứ giải phóng ngoại thành, căn cứ du kích vùng ven và hệ thống căn cứ lõm trong nội đô xuyên suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích

Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Marx – Lenin (phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến tranh nhân dân.

Về mặt khái niệm, tác giả sử dụng thuật ngữ "căn cứ kháng chiến" (phổ biến trong kháng chiến chống Mỹ) với nội hàm tương đương khái niệm "căn cứ địa" (phổ biến giai đoạn 1930 - 1954). Luận án kế thừa các tiêu chí về căn cứ địa do Tổng Bí thư Trường Chinh xác định năm 1945, bao gồm 4 điều kiện cốt lõi:

  1. Điều kiện địa lý: Địa thế hiểm trở che chở lực lượng, gây trở ngại cho đối phương khi tiến công.
  2. Điều kiện quân sự: Vị trí thuận lợi cho tiến công và phòng ngự, kiểm soát được các tuyến giao thông trọng yếu.
  3. Điều kiện kinh tế: Khả năng bảo đảm hậu cần tại chỗ dù bị đối phương bao vây, chia cắt.
  4. Điều kiện chính trị: Cơ sở quần chúng cách mạng vững mạnh ("thế trận lòng dân").

Khung phân tích của luận án dựa trên mô hình phân chia không gian chiến trường của Khu ủy Sài Gòn – Gia Định thành 3 vùng căn cứ đặc thù:

  • Vùng căn cứ giải phóng: Tuyến căn cứ lấy đấu tranh vũ trang làm chính, giữ vững và mở rộng địa bàn đứng chân, chống càn quét.
  • Vùng tranh chấp ven đô: Kết hợp song song đấu tranh chính trị và vũ trang, xây dựng các "lõm du kích", áp dụng "3 mũi giáp công" (quân sự, chính trị, binh vận) để phá kìm kẹp.
  • Vùng nội thành: Lấy đấu tranh chính trị làm chính, kết hợp với đấu tranh vũ trang biệt động và binh vận, xây dựng các căn cứ lõm bí mật trong lòng đô thị.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện trung thực, khách quan quá trình hình thành, xây dựng, bảo vệ và hoạt động của các căn cứ theo trình tự thời gian và bối cảnh lịch sử cụ thể (1954-1975).
  • Phương pháp logic: Phân tích, tổng hợp, đánh giá bản chất, quy luật vận động, mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng căn cứ và tác chiến quân sự, từ đó khái quát đặc điểm, vai trò và bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp liên ngành: Ứng dụng tri thức của khoa học quân sự, khoa học chính trị, địa lý học quân sự, xã hội học và luật học.
  • Phương pháp bổ trợ: Phương pháp đối chiếu - so sánh sử liệu, phương pháp phỏng vấn chuyên gia và phương pháp khảo sát thực địa.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nhóm nguồn tư liệu Cơ quan / Nguồn trích xuất Nội dung tư liệu
Văn kiện, chỉ thị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục Miền Nam, Khu ủy Sài Gòn – Gia Định Đường lối chiến tranh nhân dân, chỉ thị xây dựng hậu phương và căn cứ địa
Tài liệu lưu trữ - Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP.HCM)
- Phòng Khoa học Quân sự - Quân khu 7
- Ban Tuyên giáo Thành ủy TP.HCM
Hồ sơ tác chiến, báo cáo tổng kết chiến sự, sơ đồ căn cứ, tài liệu của các cấp ủy Đảng và chính quyền đối phương
Công trình tổng kết Đảng bộ TP.HCM, Bộ Tư lệnh TP.HCM, các quận/huyện (Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh...) Lịch sử truyền thống đấu tranh, biên niên sự kiện lực lượng vũ trang
Hồi ký, nhân chứng Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, chiến sĩ lão thành cách mạng tại chiến trường Sài Gòn – Gia Định Dữ liệu thực tế về đời sống, phương thức bám trụ và tác chiến tại căn cứ
Điền dã thực địa Khảo sát trực tiếp của Nghiên cứu sinh tại các di tích căn cứ Dữ liệu thực địa tại Củ Chi, An Phú Đông, Rừng Sác, Vườn Thơm, các hầm bí mật nội đô

Nội dung chính theo từng chương

Luận án có dung lượng gồm: Phần Mở đầu (7 trang), Kết luận (6 trang), Danh mục Tài liệu tham khảo (18 trang), Phụ lục (107 trang) và 4 chương nội dung chính:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu (24 trang)

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về căn cứ kháng chiến và điểm luận các công trình nghiên cứu trong nước, quốc tế. Tác giả phân tích các yếu tố tự nhiên, vị trí địa lý, truyền thống lịch sử - văn hóa và biến động dân số của vùng đất Sài Gòn – Gia Định:

Bảng tổng hợp biến động dân số Sài Gòn – Gia Định qua các giai đoạn lịch sử:

Thời điểm Quy mô dân số (người) Bối cảnh lịch sử
Cuối thế kỷ XIX ~ 317.000 Thời kỳ đầu Pháp thiết lập ách cai trị thuộc địa
Năm 1921 453.000 Giai đoạn khai thác thuộc địa lần thứ nhất
Năm 1943 861.000 Giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ hai
Năm 1957 1.718.000 Thời kỳ chính quyền Ngô Đình Diệm quản lý
Năm 1973 > 3.800.000 Giai đoạn sau Hiệp định Paris, đô thị hóa cơ học do chiến tranh

Chương này cũng phục dựng hệ thống căn cứ kháng chiến Khu Sài Gòn – Gia Định thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) – đóng vai trò là tiền đề vật chất và kinh nghiệm cho thời kỳ chống Mỹ:

  • Căn cứ An Phú Đông: Thành lập tháng 12/1945 tại 2 xã An Phú Đông và Thạnh Lộc; cách Sài Gòn 7 km đường bộ, 4 km đường chim bay; nơi đặt cơ quan Tỉnh ủy Gia Định, tòa soạn báo Cảm Tử (phát hành 5.000 bản/số, mỗi tháng 6-7 số), xưởng sản xuất vũ khí (mỗi ngày sản xuất 50 viên đạn, 50 lựu đạn).
  • Căn cứ Rừng Sác: Rừng ngập mặn diện tích khoảng 600 km², nằm ở quận Nhà Bè, tiếp giáp sông Soài Rạp và sông Lòng Tàu; là nơi đóng quân của bộ đội Bình Xuyên và hơn 50-60 cơ quan chỉ đạo kháng chiến.
  • Căn cứ Vườn Thơm – Bà Vụ: Rộng gần 200 km² (gồm 6 xã trung tâm và 9 xã ngoại vi thuộc Bình Chánh, Đức Hòa, Bến Lức), có trung tâm là Láng Le – Bàu Cò; án ngữ hành lang nối Sài Gòn với Đồng Tháp Mười.
  • Căn cứ Khu 5 Hóc Môn: Gồm 5 xã giải phóng (Phú Mỹ Hưng, An Nhơn Tây, Nhuận Đức, Trung Lập, Phú Hòa Đông), nối liền với Bời Lời, Trảng Bàng và Dương Minh Châu; là nơi bắt đầu đào những đoạn địa đạo liên xã đầu tiên (giữa Tân Phú Trung và Phước Vĩnh An), tiền thân của địa đạo Củ Chi.
  • Các căn cứ ven đô và căn cứ lõm: Hố Bần (rộng khoảng 500 ha ở Khu 3, ven Chợ Lớn), Long Phước Thôn (Vùng Bưng sáu xã), Địa đạo Phú Thọ Hòa (đường chim bay dài hơn 1 km hình thành năm 1947), Căn cứ Bình Mỹ (3 xã Bình Lý, Tân Mỹ, Mỹ Bình), chùa Châu Hưng, hầm bí mật tại số 23/122 Ngô Tùng Châu và hầm tại tiệm đàn số 122/351 Minh Mạng (diện tích 4,5 m²).

Chương 2: Quá trình tái lập các căn cứ kháng chiến khu Sài Gòn – Gia Định giai đoạn 1954-1965 (41 trang)

Chương 2 phân tích bối cảnh chính trị phức tạp sau tháng 7/1954. Chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành các văn bản pháp lý củng cố quyền lực (Dụ số 15 ngày 19/6/1954; Dụ số 11 ngày 15/2/1955; Sắc lệnh 145-CP ngày 10/5/1955; Trưng cầu dân ý ngày 23/10/1955; Sắc lệnh 4-TTP ngày 29/10/1955; bầu cử Quốc hội lập hiến ngày 4/3/1956; ban hành Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa ngày 26/10/1956).

Chính quyền Sài Gòn triển khai chính sách "Tố Cộng, diệt Cộng", mở các chiến dịch càn quét lớn:

  • Chiến dịch Trương Tấn Bửu (7/1956 - 2/1957).
  • Chiến dịch Nguyễn Trãi (4/1957 - 11/1958).
  • Chiến dịch Hồng Châu (7/1958).
  • Ban hành Luật 10/59 (ngày 6/5/1959) lập các tòa án quân sự đặc biệt.

Số liệu tổn thất của phong trào cách mạng miền Nam giai đoạn 1955-1958 được ghi nhận trong văn bản:

  • Hơn 70.000 cán bộ, đảng viên và gần 900.000 cán bộ, quần chúng bị bắt bớ, tù đày.
  • Gần 200.000 người bị tra tấn thành tàn tật.
  • Số lượng đảng viên giảm mạnh từ khoảng 60.000 đảng viên xuống chỉ còn khoảng 5.000 đảng viên.

Chương này trình bày chủ trương của Hội nghị Trung ương 6 (7/1954) về củng cố căn cứ cũ, phát triển cơ sở bí mật. Quá trình tái lập căn cứ trải qua hai bước: từng bước phục hồi các cơ sở bí mật, bám dân bám đất giai đoạn 1954-1960; sau đó mở rộng thành hệ thống căn cứ giải phóng liên hoàn và các căn cứ lõm ven đô sau phong trào Đồng Khởi, phục vụ đối phó chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ (1961-1965).

Chương 3: Xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò căn cứ kháng chiến khu Sài Gòn – Gia Định giai đoạn 1965-1975 (43 trang)

Chương 3 tập trung vào giai đoạn đối đầu quân sự cao độ khi Mỹ chuyển sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ" (1965-1968) và "Việt Nam hóa chiến tranh" (1969-1975). Chương làm rõ:

  • Công tác tổ chức phòng thủ, phát triển mạng lưới địa đạo liên hoàn (đặc biệt là địa đạo Củ Chi) và căn cứ rừng sác nhằm chống lại các chiến dịch "Tìm và Diệt" (Search and Destroy) của quân đội Mỹ do Westmoreland chỉ huy.
  • Hoạt động bảo vệ đầu não chỉ đạo của Khu ủy và Bộ Chỉ huy Miền trước các cuộc hành quân càn quét quy mô lớn và hỏa lực bom đạn khốc liệt.
  • Phát huy vai trò của hệ thống căn cứ làm bàn đạp xuất phát quân sự: tập kết vũ khí, ém quân biệt động và các trung đoàn chủ lực tiến công vào các mục tiêu trọng điểm trong đô thị Sài Gòn trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.
  • Xây dựng thế trận bàn đạp và hậu phương trực tiếp phục vụ các cánh quân tiến công giải phóng hoàn toàn thành phố trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc ngày 30/4/1975.

Chương 4: Đặc điểm, vai trò và một số bài học kinh nghiệm (27 trang)

Chương 4 đúc kết các nội dung mang tính lý luận và thực tiễn:

  • Đặc điểm: Hệ thống căn cứ nằm sát trung tâm đầu não của đối phương; tồn tại đan xen theo hình thái "cài răng lược" và thế "da báo"; kết hợp giữa căn cứ địa hình hiểm trở (rừng ngập mặn, đồi chồi) với công sự nhân tạo ngầm trong lòng đất (địa đạo) và "căn cứ lòng dân" trong đô thị.
  • Vai trò: Là hậu phương tại chỗ cung cấp sức người, sức của; nơi đứng chân an toàn của cơ quan lãnh đạo; bàn đạp tiếp nhận chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc và các chiến khu miền Đông để tiến công thẳng vào sào huyệt đối phương; biểu tượng chính trị cổ vũ tinh thần đấu tranh của nhân dân.
  • Bài học kinh nghiệm: Luôn dựa chắc vào nhân dân để xây dựng "thế trận lòng dân"; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng căn cứ với tác chiến bảo vệ căn cứ; phân vùng chỉ đạo linh hoạt bằng phương thức "3 mũi giáp công" phù hợp với từng vùng chiến lược (giải phóng, ven đô, nội thành).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học

  1. Là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về hệ thống căn cứ kháng chiến ở Khu Sài Gòn – Gia Định trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975).
  2. Cung cấp các luận cứ khoa học mới về nghệ thuật tổ chức, xây dựng và phát huy vai trò của các căn cứ kháng chiến trên địa bàn đô thị và vùng ven đô trong chiến tranh cách mạng Việt Nam thời hiện đại.
  3. Bổ sung và hoàn chỉnh thêm nguồn sử liệu về lịch sử hình thành, phát triển hệ thống căn cứ kháng chiến ở Nam Bộ và chiến tranh giải phóng dân tộc trên phạm vi cả nước.

Ý nghĩa lý luận và giải pháp thực tiễn

  • Ý nghĩa lý luận: Làm phong phú thêm lý luận quân sự về xây dựng hậu phương chiến tranh nhân dân tại chỗ, làm rõ phương thức tổ chức căn cứ kháng chiến xen kẽ vùng địch kiểm soát trong nghệ thuật quân sự Việt Nam.
  • Ý nghĩa thực tiễn:
    • Cung cấp các bài học kinh nghiệm về việc huy động sức mạnh toàn dân phục vụ nhiệm vụ xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc tại TP.HCM và địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam hiện nay.
    • Cung cấp tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu lịch sử Đảng, lịch sử quân sự tại các học viện, trường đại học và giáo dục truyền thống cách mạng tại các cơ sở giáo dục.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do nguồn tư liệu hồi ký của các nhân chứng lịch sử có sự mai một theo thời gian, một số chi tiết và sự kiện cụ thể ở các căn cứ cấp cơ sở cần tiếp tục được kiểm chứng, đối chiếu đa chiều với các hồ sơ lưu trữ mới được giải mật.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu chuyên biệt về cấu trúc vận hành của từng loại hình căn cứ lõm nội đô hoặc so sánh đối chiếu hệ thống căn cứ đô thị Sài Gòn – Gia Định với căn cứ tại các đô thị khác ở miền Nam trong cùng thời kỳ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn dành cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên: Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Quân sự và Quan hệ Quốc tế; đặc biệt có giá trị ở Chương 1 (khung tổng quan tài liệu và hệ thống căn cứ tiền đề thời chống Pháp) và Chương 4 (hệ thống hóa đặc điểm, bài học kinh nghiệm).
  • Cơ quan quân sự và hoạch định chính sách: Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh, Quân khu 7 và các cơ quan tham mưu quốc phòng – an ninh trong việc nghiên cứu xây dựng khu vực phòng thủ, thế trận chiến tranh nhân dân và "thế trận lòng dân" trong bối cảnh hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Căn cứ kháng chiến được xác định gồm những điều kiện cơ bản nào theo luận án?

Theo quan điểm của Tổng Bí thư Trường Chinh và các công trình lý luận quân sự được luận án trích dẫn, một căn cứ kháng chiến cần đáp ứng 4 điều kiện cốt lõi: (i) Điều kiện địa lý (địa thế hiểm trở, thuận lợi phòng ngự và rút lui); (ii) Điều kiện quân sự (thuận tiện tiến công, kiểm soát các vị trí hiểm yếu của địch); (iii) Điều kiện kinh tế (bảo đảm tự cấp tự túc hậu cần tại chỗ); (iv) Điều kiện chính trị (tổ chức quần chúng vững chắc, có sự ủng hộ của nhân dân).

2. Sự phân chia 3 vùng căn cứ của Khu ủy Sài Gòn – Gia Định có điểm gì khác với Trung ương Cục Miền Nam?

Trong khi Trung ương Cục phân chia chiến trường B2 thành 3 vùng chiến lược dựa trên địa hình tự nhiên (vùng rừng núi, vùng nông thôn đồng bằng và vùng đô thị), cấp ủy Khu Sài Gòn – Gia Định phân chia không gian chiến trường thành 3 vùng căn cứ gắn liền với phương châm tác chiến: (i) Vùng căn cứ giải phóng (lấy đấu tranh vũ trang làm chính); (ii) Vùng tranh chấp ven đô (kết hợp song song đấu tranh chính trị và vũ trang, xây dựng lõm du kích); (iii) Vùng nội thành (lấy đấu tranh chính trị làm chính, kết hợp với biệt động vũ trang và xây dựng căn cứ lõm bí mật).

3. Những căn cứ kháng chiến tiêu biểu nào thời chống Pháp được nêu làm tiền đề cho giai đoạn 1954-1975?

Văn bản nêu rõ hệ thống căn cứ thời chống Pháp bao gồm: Căn cứ An Phú Đông (2 xã An Phú Đông và Thạnh Lộc), Căn cứ Rừng Sác (rộng 600 km² ở Nhà Bè), Căn cứ Vườn Thơm – Bà Vụ (gần 200 km² ở Bình Chánh - Đức Hòa), Căn cứ Khu 5 Hóc Môn (5 xã giải phóng ven sông Sài Gòn, nơi bắt đầu đào địa đạo), Căn cứ Hố Bần (rộng 500 ha tại Quận 8), Căn cứ Long Phước Thôn (Vùng Bưng sáu xã), Địa đạo Phú Thọ Hòa (dài hơn 1 km) và Căn cứ Bình Mỹ.

4. Mức độ tổn thất của phong trào cách mạng miền Nam giai đoạn 1955-1958 sau các chiến dịch của chính quyền Sài Gòn như thế nào?

Theo số liệu tổng kết được trích dẫn trong luận án, dưới tác động của chính sách "Tố Cộng, diệt Cộng", các chiến dịch càn quét (Trương Tấn Bửu, Nguyễn Trãi, Hồng Châu) và Luật 10/59 của chính quyền Ngô Đình Diệm, phong trào cách mạng chịu tổn thất lớn: hơn 70.000 cán bộ, đảng viên và gần 900.000 cán bộ, nhân dân bị bắt bớ, tù đày; gần 200.000 người bị tra tấn tàn tật; số lượng đảng viên giảm từ 60.000 người xuống chỉ còn khoảng 5.000 người.


Kết luận

Luận án "Căn cứ kháng chiến khu Sài Gòn – Gia Định trong kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975)" là công trình sử học chuyên khảo phục dựng toàn diện và có hệ thống quá trình tái lập, xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của hệ thống căn cứ cách mạng tại trung tâm đầu não của đối phương. Tác phẩm làm rõ tính chất đặc thù của thế trận "cài răng lược", mô hình phân vùng căn cứ và sự kết hợp giữa công sự ngầm địa đạo với "thế trận lòng dân". Các kết quả nghiên cứu không chỉ làm phong phú kho tàng lý luận chiến tranh nhân dân Việt Nam mà còn cung cấp luận cứ khoa học cho công tác củng cố quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ hiện nay.