mở đầu khởi nghĩa ở Nam bộ (ngày 21 tháng 8 năm 1945), tiếp sau đó đến Tây Ninh (ngày 24 tháng 8 năm 1945) và sau cùng là Sài Gòn, Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Bà Rịa (ngày 25 tháng 8 năm 1945). 20 Như vậy, truyền thống đấu tranh của nhân dân miền Đông Nam Bộ “Hào khí Đồng Nai” đã bắt gặp chủ nghĩa yêu nước và học thuyết Marx – Lenin đã sản sinh ra một “miền Nam đất thép thành đồng”, “gian lao mà anh dũng”. Chiến tranh du kích ở Đông Nam Bộ từ Nam Kỳ khởi nghĩa 1940 đến trước năm 1945.1 Khái niệm chiến tranh du kích Bàn về chiến tranh du kích, F. Engels – nhà chiến lược quân sự Marxist viết: “Một dân tộc muốn giành độc lập cho mình thì không được tự giới hạn trong những phương thức tiến hành chiến tranh thông thường.
Khởi nghĩa quần chúng, chiến tranh cách mạng, các đội du kích khắp nơi, đó là phương thức duy nhất nhờ đó mà một dân tộc nhỏ có thể chiến thắng một dân tộc lớn, một đội quân nhỏ bé có thể chống lại một đội quân mạnh có tổ chức tốt hơn”5. Lenin trong đợt tổng kết những bài học kinh nghiệm của cuộc khởi nghĩa Matxcơva 1905, đã kết luận: “Chiến tranh du kích xuất hiện ngay trong khởi nghĩa vũ trang. Đó là “tổng hợp những hình thức đấu tranh khác nhau của các giai cấp cách mạng xuất hiện một cách tự phát trong tiến trình của phong trào và tổ chức đã làm cho những hình thức đó có tính tự giác mà thôi”6. Còn ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuốn sách “Chiến thuật du kích” Người viết “Du kích là cách đánh úp hay đánh lén lúc kẻ thù không ngờ, không phòng.
Du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc. Đế quốc có khí giới tốt, có quân đội đàng hoàng; quân du kích không có khí giới tốt, chưa hình thành quân đội đàng hoàng; nhưng quân du kích được dân chúng ủng hộ, thuộc địa hình, địa thế, khéo léo lợi dụng đêm tối, mưa nắng, khéo xếp đặt kế hoạch, nên quân du kích vẫn có thể đánh được đế quốc…”7. Còn theo từ điển quân sự Việt Nam định nghĩa thì “Chiến tranh du kích là chiến tranh được tiến hành theo phương thức đánh du kích với lực lượng nhỏ lẻ, nòng cốt là lực lượng vũ trang địa phương nhằm chống lại đối phương có ưu thế hơn về sức mạnh quân sự. Chiến tranh du kích thường được sử dụng ở các nước 5 Chủ nghĩa Marx – Lenin bàn về chiến tranh và quân đội – Nxb.
Quân đội Nhân dân, H, 1976. 6 Chủ nghĩa Maxr – Lenin bàn về chiến tranh và quân đội – NXB. Quân đội Nhân dân, H,1976. 7 Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.
21 thuộc địa hoặc bị xâm lược khi so sánh lực lượng ở những nước đó chưa cho phép tiến hành chiến tranh chính quy. Chiến tranh du kích rất phong phú và đa dạng về phương thức tiến hành chiến tranh trong kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ, trong đó tư tưởng không ngừng tiến công địch và kiên trì trụ bám, làm chủ làng bản, xã, phố, phường kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng giành và giữ chính quyền làm chủ ở cơ sở là đặc trưng tiêu biểu của chiến tranh du kích ở Việt Nam”8. Chiến tranh du kích ở miền Đông Nam Bộ từ Nam Kỳ khởi nghĩa 1940 đến trước năm 1945. Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đường lối cách mạng Việt Nam nhằm đánh đổ đế quốc Pháp giành lại nền độc lập dân tộc, với phương pháp đấu tranh kinh tế, chính trị và “vũ trang bạo động”.
Tại Đông Nam Bộ, phong trào đấu tranh vũ trang mạnh mẽ và liên tục ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân lên đất Gia Định và thôn tính ba tỉnh miền Đông với các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực, Trương Định, Ngô Quyền, Nguyễn Hữu Huân, Võ Duy Dương, Phan Công Hớn, Nơ Trang Long, Nguyễn Hữu Trí… Mặc dù cuối cùng đều bị thất bại nhưng các cuộc khởi nghĩa đều để lại nhiều bài học kinh nghiệm về phát động cuộc đấu tranh toàn dân, dựa vào nhân dân và địa thế hiểm yếu để thực hành đấu tranh theo lối du kích. Sang đầu thế kỷ XX, Đông Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung có sự biến đổi hết sức sâu sắc về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội… Dưới ảnh hưởng của cách mạng Tháng Mười Nga cùng phong trào cách mạng vô sản đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới, phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở miền Đông Nam Bộ sản sinh ra hàng loạt tổ chức cộng sản. Đó là các tổ chức cộng sản ở thành phố Sài Gòn và các tỉnh Thủ Dầu Một, Chợ Lớn, Gia Định, Biên Hòa, Tân An, Bà Riạ, Tây Ninh. Từ đây Đảng Cộng sản bắt đầu nắm quyền lãnh đạo cách mạng, dẫn dắt phong trào yêu nước của nhân dân miền Đông Nam Bộ trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc, với hàng loạt sự kiện sôi động diễn ra ở Ba Son, Phú Riềng, Dầu Tiếng, Bà Điểm… 8 Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.
22 Cùng với những biến đổi sâu sắc do chiến tranh thế giới đưa lại, đặt cách mạng Việt Nam trước tình thế “sẽ tiến bước đến vấn đề giải phóng dân tộc”9. Trong bối cảnh đó, tháng 11 năm 1939, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần 6 quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược “dự bị điều kiện bước tới bạo động làm cách mạng giải phóng dân tộc”. Quán triệt nội dung nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6, Hội nghị Đảng toàn xứ Nam Kỳ được triệu tập vào tuần tháng 7 năm 1940. Sau khi phân tích, đánh giá tình hình mọi mặt, Hội nghị đã nhất trí chủ trương phát động khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân, trên cơ sở cân nhắc kỹ lưỡng tình hình thế giới, tình hình trong nước, chuẩn bị chu đáo mọi mặt và chờ lệnh đồng ý của Trung ương.
Trong khi chờ quyết định chấp thuận của Trung ương, công tác chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang được hình thành hết sức khẩn trương. Từ tháng 7 năm 1940, không khí cách mạng sôi sục khắp các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Trên cơ sở các tổ chức cách mạng được thành lập và củng cố, ban quân sự, ban khởi nghĩa các cấp ra đời. Lực lượng vũ trang xuất hiện dưới hình thức vũ trang các đội tự vệ, đội du kích với các trang bị thô sơ đã nỗ lực luyện tập ngày đêm.
Nhiều anh em binh lính của thực dân Pháp được phân công đứng ra dạy quân sự cho quân du kích. Đến trước tháng 11 năm 1940, khắp các tỉnh Đông Nam Bộ đều có lực lượng dân quân du kích đã được luyện tập và sẵn sang vũ khí tiến hành khởi nghĩa. Đêm 22 rạng sáng ngày 23 tháng 11 năm 1940, khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ. Cuộc giao tranh diễn ra quyết liệt ở Gia Định, Chợ Lớn, Tân An rồi Tây Ninh, Biên Hòa, Thủ Dầu Một và nhiều địa phương khác.
Tại Gia Định, đúng 0h ngày 23 tháng 11 năm 1940 quân du kích đồng loạt tiến công các đồn bót địch ở Lăng Cha Cả, Vườn Tiêu, Ngã năm Vinh Lộc và trên khắp các hướng tiến quân vào Hóc Môn. Ở Lăng Cha cả, quân du kích thu được nhiều sung, ở khu vực Hóc Môn, quân du kích chặn đánh nhiều tốp lính Pháp hành quân từ Sài Gòn lên chi viện, thu 15 súng trường… 9 Ban nghiên cứu lịch sử Đảng trung ương: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, sơ thảo, t.1 (1920 - 1954), NXB Sự Thật, Hà Nội, 1983, tr.316 23 Tại Chợ Lớn, lực lượng du kích tập trung ở Đức Hòa, Trung Quận, Cần Giuộc, Cần Đước mỗi nơi có từ 400 đến 500 người. Cuộc khởi nghĩa nổ ra gần như đồng loạt và rộng khắp, đặc biệt diễn biến rât quyết liệt ở hai quận Đức Hòa, Trung Quận. Ở một số xã, ngụy quyền cơ sở bị tan rã hoặc tê liệt hoàn toàn, nhân dân làm chủ xã ấp trong nhiều ngày.
Tại Tân An, trong đêm 22 rạng sáng ngày 23 tháng 11, quân du kích phá cầu Bà Hom, lập chướng ngại vật chặn đường giao thông Tân An – Tầm Vu, Kỳ Sơn ở Châu Thành, tiến công đồn Kinh Tắc, chiếm các nhà việc ở Long Ngãi Thuận, Mỹ Lạc Thạnh ở Phủ Thừa. Tại Biên Hòa, lực lượng du kích đã sẵn sang ở nhiều địa phương trong tỉnh những chưa kịp khởi nghĩa thì bị quân Pháp ra tay đàn áp trước. Như vậy, do kế hoạch khởi nghĩa bị lộ, thực dân Pháp đã bố trí lực lượng và kế hoạch đàn áp từ trước, nên cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bị dìm trong bể máu. Trước sức mạnh áp đảo và những hành động tàn bạo của kẻ thù, các đội quân du kích phải rút lui để bảo tồn lực lượng, dựa vào các căn cứ địa hoạt động du kích, chiến đấu lâu dài chống Pháp.
Cụ thể là10: - Tại Gia Định: Quân du kích chia làm 2 bộ phận. Một bộ phận rút xuống Đồng Tháp Mười. Một bộ phận khác kéo về Tân Mỹ, Phước Vĩnh An tập hợp thành “đội nghĩa quân Hóc Môn – Gò Vấp – Đức Hòa” (150 người, 28 súng, 8 súng lửa). Sau đó rút lên Truông Mít (Tây Ninh) trụ bám hoạt động du kích tại đây.
- Tại Chợ Lớn: lực lượng du kích chia làm 3 bộ phận. Một bộ phận trụ lại khu Chánh Hưng (rừng Sác). Một bộ phận rút xuống Đồng Tháp Mười, nhập cùng lực lượng của tỉnh Gia Định hoạt động tại Bình Hòa, Bình Thành, Thạnh Lợi. Bộ phận còn lại cùng với lực lượng khác của Gia Định về Truông Mít (Tây Ninh).
- Tại Tân An: Các đơn vị du kích kéo về Đồng Tháp Mười khu vực Bình Hòa, Bình Thành, Thạnh Lợi. Tại đây lực lượng hợp với bộ phận của tỉnh Gia 10 Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Thành phố Hồ Chí Minh, Nam kỳ khởi nghĩa (1940), NXB TP. Hồ Chí Minh, 1990, tr. 24 Định, Chợ Lớn xây dựng lại thành một đơn vị thống nhất gồm 120 người, 30 súng các loại, sau đó rút sâu vào lập căn cứ ở khu vực Mớp Xanh, Nhơn Ninh.
- Tại Biên Hòa: Bên các đơn vị du kích bị tan rã và nằm im tại chỗ, đội du kích của Tân Uyên gồm 12 người, 2 súng vào rừng Đất Cuốc, Lạc An ẩn náu và tiếp tục hoạt động.