Chương 1 Đảng bộ các tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên lãnh đạo chiến tranh du kích chống thực dân Pháp xâm lược trong những năm 1946 - 1949 1. Lãnh đạo xây dựng lực lượng, bảo vệ chính quyền, chuẩn bị kháng chiến trong những năm 1945 - 1946 1. Vài nét về tỉnh Vĩnh Phúc Tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay được thành lập trên cơ sở 2 tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên. Hai tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên được thành lập dưới thời thuộc Pháp.
Ngày 20/ 10/ 1890, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập đạo Vĩnh Yên bao gồm: - Huyện Bình Xuyên tách từ phủ Phú Bình tỉnh Thái Nguyên sang. - Toàn bộ phủ Vĩnh Tường gồm 5 huyện: Bạch Hạc, Lập Thạch, Tam Dương, Yên Lạc và Yên Lãng từ tỉnh Sơn Tây sang. Đến ngày 12/4/1891, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định bãi bỏ đạo Vĩnh Yên, đưa địa bàn đạo Vĩnh Yên chuyên về tỉnh Sơn Tây. Hơn 8 năm sau, ngày 29/12/1899, Toàn quyền Đông Dương lại ra Nghị định lập lại tỉnh Vĩnh Yên trên cơ sở địa bàn của đạo Vĩnh Yên cũ.
Tinh li đặt tại làng Tích Sơn huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Yên chính thức ra đời và đi vào hoạt động từ năm 1900. Sau đó không lâu, Yên Lãng tách ra khỏi tỉnh Vĩnh Yên để nhập vào tỉnh Phù Lỗ (1901). Từ 1901, tỉnh Vĩnh Yên còn lại một phủ là Vĩnh Tường và 4 huyện là Yên Lạc, Bình Xuyên, Tam Dương, Lập Thạch. Còn đối với tỉnh Phúc Yên, ngày 6/10/1901, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Phù Lỗ.
Địa bàn tỉnh Phù Lỗ bao gồm 3 huyện cắt từ tỉnh Bắc Ninh sang là phủ Đa Phúc, huyện Kim Anh và huyện Đông Khê (năm 1903 huyện Đông Khê đổi tên là huyện Đông Anh); phủ Yên Lãng cắt từ tỉnh Vĩnh Yên sang. Tỉnh lị đặt tại làng Phù Lỗ huyện Kim Anh nên tỉnh có tên gọi là Phù Lỗ. Ngày 18/2/1904, tinh li rời lên làng Tháp Miéu thuộc tổng Bạch Trữ phủ Yên Lãng và từ đó tên của tỉnh là Phúc Yên. Tháng 3/1913, chính quyền thực dân đưa tỉnh Phúc Yên xuống cấp đại lý, lệ thuộc vào tỉnh Vĩnh Yên.
Hai năm sau, tháng 12/1915, chúng xoá bỏ cấp đại lý, lập lại tỉnh Phúc Yên gồm hai phủ là Đa Phúc, Yên Lãng và hai huyện là Kim Anh, Đông Anh, đây là tỉnh nhỏ nhất xứ Bắc Kỳ. Sau cách mạng tháng Tám, thực hiện chủ trương của Chính phủ, các tỉnh đều bỏ cấp tông, các làng xã nhỏ hợp nhất thành xã lớn và bỏ tên phủ, gọi chung là huyện. Tháng 2/1950, hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên hợp nhất thành một tỉnh lấy tên là tỉnh Vĩnh Phúc. Đến tháng 2/1968, hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ đã hợp nhất thành tỉnh Vĩnh Phú.
Tháng 10/1977, các huyện trong tỉnh đều hợp nhất thành huyện lớn. Trên phạm vi tỉnh Vĩnh Phúc cũ, hai huyện Da Phúc và Kim Anh hop nhất thành huyện Sóc Sơn; huyện Vĩnh Tường và Yên Lạc hợp nhất thành huyện Vĩnh Lạc; hai huyện Tam Dương, Lập Thạch hợp nhất thành huyện Tam Đảo; hai huyện Yên Lãng, Bình Xuyên hợp nhất thành huyện Mê Linh trong đó có thị tran Phúc Yên. 10 Tháng 3/1979, toàn bộ tỉnh Phúc Yên cũ gồm hai huyện Sóc Sơn và Mê Linh chuyên về thành phố Hà Nội. Tháng 10/1991, huyện Mê Linh lại tách về Vĩnh Phú.
Tháng 11/1996, Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 10 đã thông qua nghị quyết về việc chia tách một số tỉnh, trong đó có tỉnh Vĩnh Phú chia tách thành hai tỉnh là Vĩnh Phúc và Phú Thọ. Sau 29 năm hợp nhất với tỉnh Phú Thọ, tỉnh Vĩnh Phúc đã tai lập và đi vào hoạt động từ 1/1/1997. Tinh Vĩnh Phúc hiện nay có 9 đơn vi hành chính là 2 thị xã là Vĩnh Yên và Phúc Yên và 6 huyện: Lập Thạch, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Bình Xuyên, Tam Dương, Tam Đảo và Mê Linh [12, 18,19]. Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi đặt van dé nghiên cứu trong phạm vi địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954).
Vì vậy, phạm vi nghiên cứu bao gồm địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay và hai huyện Sóc Sơn, Đông Anh thuộc thành phố Hà Nội. Vĩnh Phúc là một tỉnh trung du ở Bắc Bộ nằm bên tả ngạn sông Hồng, là cửa ngõ nói liền các tỉnh đồng bằng Bắc bộ với Việt Bắc. Phía bắc giáp Thái Nguyên, Tuyên Quang. Phía đông giáp Bắc Ninh, Bắc Giang.
Phía Nam giáp Sơn Tây, Hà Đông (nay thuộc Hà Tây), Hà Nội. Phía tây giáp Phú Thọ. Tổng diện tích của Vĩnh Phúc khi sáp nhập hai tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên (2/1950) là 1. Phía bắc của Vĩnh Phúc là một vùng rừng núi từ tây bắc Đa Phúc qua bắc Kim Anh, Bình Xuyên, Tam Dương tới tay bắc huyện Lập Thạch, hình thành một tam giác lệch.
Đặc biệt phía đông bắc có dãy núi Tam Đảo chạy từ tây bắc Đa Phúc lên đông bắc Lập Thạch dài 32 km, như bức thành ngăn Vĩnh Phúc với Tuyên Quang, Thái Nguyên. Trong kháng chiến, ở đây là vùng căn cứ địa của Vĩnh Phúc, nơi tập trung cơ quan chỉ đạo, kho tàng, công xưởng, đồng thời cũng là nơi cho bộ đội tập kết, huấn luyện, làm công tác chuẩn bị rất tốt. 11 Sau lưng rừng núi là một dãy đồi núi cao thấp xen lẫn với làng mạc thành một dai nằm giữa tỉnh chạy từ đông sang tây dài chừng 42 km, rộng chừng 10 km, diện tích chung chừng 452 km? ngăn cách vùng rừng núi phía bắc với ving đồng bằng phía nam. Đặc điểm của nó hau hết là đổi núi trọc, ở giữa có các đỉnh núi cao, phía nam thấp dần thành một dộ thoai thoải, đất pha lẫn đá sỏi, cau trúc công sự hoặc nguy trang khó khăn.
Trên các mom đôi cao đều có một tầm kiểm soát được xa và rộng, có nhiều điều kiện tốt phát huy được hiệu lực của vũ khí kỹ thuật. Vì vậy trong kháng chiến, địch đã chiếm dải đồi trọc này thiết lập thành tuyến phòng ngự vững chắc ngăn cách vùng tự do với vùng địch hậu [89, 8]. Trên địa bàn tinh có 2 đường quốc lộ chạy qua. Quốc lộ 2 (Hà Nội - Hà Giang) chạy qua Vĩnh Phúc hơn 50 km.
Đường này chạy song song với đường sắt Hà Nội - Lào Cai qua Vĩnh Phúc dài hơn 40 km. Quốc lộ số 3 (Hà Nội đi Cao Bằng) qua Vinh Phúc dài 16 km. Đường này chạy song song với đường sắt Hà Nội - Thái Nguyên qua Vĩnh Phúc dài 16 km. Ngoài ra còn có các tỉnh lộ như: đường 12, 129,23, 40, 35, 131,.[12, 23] Phí nam và tây nam còn có hai con sông lớn là sông Hồng (trên địa phận tinh đài 57 km), sông Lô (dai 37 km), một phần sông Đuống bao bọc.
Ngoài ra còn có các sông nhỏ như sông Cầu (dài 24 km), sông Phó Đáy (dài 38 km), sông Cà Lô (dai 28 km). Riêng sông Hồng và sông Lô, các mùa đều có thé lưu thông rất thuận tiện. Còn các sông khác, chỉ có thể vận chuyển vào mùa nước, nhưng khúc khuỷu, nước chảy xiết, mùa khô có chỗ lại cạn, thuyền bè không qua lại được. Riêng sông Day, từ Tuyên Quang chảy qua huyện Lập Thạch, bắc huyện Vĩnh Tường, ra Việt trì, cắt đôi huyện Tam Dương, Vĩnh Tường, Lập Thạch.
Do vậy cũng tạo thêm cho xăn cứ huyện Lập Thạch có thế vững chắc. Sông Cà Lồ từ cống Lồ (Yên Lạc) chạy qua tây Yên Lãng, nam Kim Anh ra sông Cầu, cho nên đã chia cắt địa hình giữa nam Bình Xuyên với tây Yên Lãng; 12 giữa nam Kim Anh với tây Đông Anh. Mùa nước, gây nên khó khăn trong khi vận động tác chiến. Ngoài ra, còn có nhiều đầm lạch rải rác trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là ở phía nam.
Có đầm lạch rat rộng và sâu như: dam Đồng Mật rộng 536 mẫu, đầm Vac rộng 437 mẫu. Chạy dọc theo sông Hong là một con dé lớn dai 63 km ôm lấy toàn bộ địa hình phía nam trong tỉnh. Trong kháng chiến, địch đã lợi dụng chiếm con đê này tổ chức thành tuyến chiếm đóng. Ven sông Hồng còn có bãi sậy tự nhiên phía đông nam huyện Yên Lãng dài 13 km, rộng 2 km.
Đây là địa hình thuận lợi dé cho ta trú quân và làm căn cứ trong địch hậu. Về đặc điểm dân cư, do địa hình chia thành 2 miền của một tỉnh trung du, nên hình thái làng mạc mỗi miền cũng có những đặc điểm khác nhau: Vùng đồng bằng, làng mạc đông đúc, hình thành từng tuyến, từng khu vực, tập trung nhiều trên đọc sông, đọc đường giao thông và xung quanh các khu đầu mỗi giao thông. Làng ở ven sông Hồng thường dài, bờ tre xung quanh làng xen lẫn nhiều soan, chuối bao bọc. Trong làng ít tường ngăn cách, có nhiều cây cối kín đáo, hầu hết là nhà lá vách đất.
Xung quanh là cánh đồng ruộng dat bãi pha cát phù sa, mùa trồng màu có nhiều bãi ngô, mía kín đáo thuận tiện cho hoạt động du kích chiến tranh. Nhưng mùa nước, đất lở, nhiều cánh đồng bị ngập nước, đi lại khó khăn. Làng mạc trong đồng đến quốc lộ 2, 3, hình thái dài - rộng cân đối, xung quanh làng có bờ luỹ dap đất và hào từng đoạn kiên cố. Trong làng có nhiều tường ngăn cách, chia thành nhiều ngõ nhỏ, ngoài làng thường là những cánh đồng băng phẳng, thuận lợi cho hoạt động du kích chiến tranh.
13 Vùng rừng núi, làng mạc thường ở rải rắc ven đổi, ven rừng, đại bộ phận là làng nhỏ, ở phân tán. Cũng có những nơi tương đối tập trung như ven sông Lô, sông Day và một số khu vực tiếp giáp với đồng bằng.[89, 9,10] Như vậy, xét toàn bộ vị trí địa lý trên đây, chúng ta thấy được Vĩnh Phúc giữ một vị trí chiến lược quan trọng, là cầu nối giữa đồng bằng Bắc bộ với căn cứ địa Việt Bắc. Vì vậy, trong kháng chiến, Vĩnh Phúc là địa bàn gianh giật rất quyết liệt giữa ta và địch, là nơi phải đương đầu với nhiều trận càn quét ác liệt của thực dân Pháp nhằm củng cố và mở rộng vùng chiếm đóng. Dân số của Vĩnh Phúc tính đến 1950 khoảng 47 vạn người, bao gồm 14 dân tộc anh em, đông nhất là người Kinh (chiếm 98,4%).
Đồng bao các dân tộc thiểu số sống rải rác ở 17 xã đọc dãy Tam Đảo, Sáng Sơn của 5 huyện Tam Dương, Bình Xuyên, Lập Thạch, Kim Anh và Đa Phúc. Đại bộ phận nhân dân theo đạo Phật, có gan 2 vạn người theo đạo Thiên Chúa sống rải rác ở 72 xã, 2 thị xã, trong đó có 26 thôn công giáo toàn tòng [12, 19]. Nhân dân Vĩnh Phúc chủ yếu sống bang nghề làm ruộng. Ngay từ thời dé quốc Pháp cai trị, toàn tỉnh không có một cơ sở công nghiệp nào.