Chương 1: Đảng bộ Bắc Ninh lãnh đạo chiến tranh du kích từ tháng 12 năm 1946 đến tháng 7 năm 1949 Chương 2: Đảng bộ Bắc Ninh lãnh đạo chiến tranh du kích từ tháng 7 năm 1949 đến tháng 10 năm 1954 Chương 3: Nhận xét và bài học kinh nghiệm. z Chƣơng 1 ĐẢNG BỘ BẮC NINH LÃNH ĐẠO CHIẾN TRANH DU KÍCH TỪ THÁNG 12 NĂM 1946 ĐẾN THÁNG 7 NĂM 1949.1 Lãnh đạo xây dựng lực lƣợng, bảo vệ chính quyền, chuẩn bị kháng chiến (8.1 Địa lý tự nhiên, xã hội và truyền thống lịch sử - văn hóa Bắc Ninh là một tỉnh thuộc đồng bằng trung du Bắc Bộ. Diện tích 796,25 Km 2 với số dân số 925. Mật độ trung bình 1.163 người/1 Km2 (đứng thứ 6 trong cả nước) [17, tr.
Phía đông nam và phía nam Bắc Ninh giáp tỉnh Hải Dương và Hưng Yên, phía tây và tây nam giáp Hà Nội, phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Bắc Giang. Đây là cửa ngõ quan trọng bảo vệ thủ đô Hà Nội từ phía đông - đông Bắc, là đầu mối quan trọng nối liền Hà Nội với các tỉnh phía Bắc như Bắc Giang - Lạng Sơn, và Hà Nội với các tỉnh Hải Dương – Hưng Yên – Hải Phòng. Bắc Ninh cũng là vị trí chiến lược quan trọng bảo vệ căn cứ địa Việt Bắc từ phía nam. Chính vì vậy mà Bắc Ninh trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, diễn ra sự tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch.
Địa danh tỉnh Bắc Ninh có nhiều biến thiên theo lịch sử. Thời Hùng Vương, Bắc Ninh là một vùng đất thuộc bộ Vũ Ninh. Đến thời Lý, nơi đây có tên gọi là lộ Bắc Giang, rồi Thiên Đức Giang. Thời Trần đổi tên thành lộ Kinh Bắc.
Thời Lê mang tên là Thừa Tuyên Bắc Giang, rồi Trấn Kinh Bắc. Đến thời Nguyễn, Trấn Kinh Bắc được đổi thành Trấn Bắc Ninh vào năm 1822. Năm 1831 đổi tên thành tỉnh Bắc Ninh. Tháng 10 năm 1895, Thực dân Pháp chia tỉnh Bắc Ninh thành hai tỉnh là Bắc Ninh và Bắc Giang.
z Sau cách mạng Tháng Tám, tỉnh Bắc Ninh bao gồm một thị xã, hai phủ (phủ Từ Sơn và phủ Thuận Thành) và 8 huyện (huyện Tiên Du, huyện Gia Bình, huyện Lang tài, huyện Quế Dương, huyện Võ Giàng, huyện Yên Phong, huyện Văn Giang, huyện Gia Lâm). Tháng 2 năm 1947, huyện Văn Giang sáp nhập vào tỉnh Hưng Yên, huyện Văn Lâm của tỉnh Hưng Yên nhập về tỉnh Bắc Ninh. Tháng 2 năm 1949, huyện Gia Lâm cắt về tỉnh Hưng Yên. Tháng 11 năm 1949 lại sáp nhập trở lại Bắc Ninh.
Đến tháng 8 năm 1950, hai huyện Gia Bình và Lang Tài hợp nhất thành huyện Gia Lương. Tháng 4 năm 1961, huyện Gia Lâm cùng một số xã của các huyện Thuận Thành, Tiên Du, Từ Sơn tách ra khỏi Bắc Ninh nhập vào Hà Nội. Năm 1962 hợp nhất hai huyện Quế Dương và Võ Giàng thành huyện Quế Võ, huyện Tiên Du và phủ Từ Sơn hợp nhất thành huyện Tiên Sơn (một số xã của huyện Từ Sơn cắt sang Gia Lâm và Đông Anh). Đến năm 1962, tỉnh Bắc Ninh cùng tỉnh Bắc Giang sáp nhập lại thành tỉnh Hà Bắc với 14 huyện và 2 thị xã.
Ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 10 thông qua quyết định tách Hà Bắc thành hai tỉnh là Bắc Ninh và Bắc Giang [17, tr. Ngày 1 tháng 1 năm 1997, tỉnh Bắc Ninh chính thức hoạt động theo đơn vị hành chính mới với diện tích 797,9 Km2 với 1 thị xã và 7 huyện là Gia Bình, Lương Tài, Thuận Thành, Quế Võ, Từ Sơn, Tiên Du, Yên phong. Tổng số 123 xã, phường, thị trấn, dân số 922. Địa hình Bắc Ninh tương đối bằng phẳng, xen kẽ giữa các làng mạc là các cánh đồng nhỏ hẹp.
Rải rác ở các huyện có các dãy núi thấp, có thể phân ra các khu như sau: Khu Đáp Cầu, Thị Cầu ( núi Pháo Đài, đồi Búp Lê). Khu Tiên Du (núi chè, núi Vân chinh, núi Long Khám, núi Lim…). Khu Gia Bình (Núi Thiên Thai). Ngoài ra ở z hầu như huyện nào cũng có những gò đồi cao như Yên Phụ (Yên Phong), Tam Sơn (Từ Sơn), Đông Du (Quế Võ)… Bắc Ninh được bao bọc bởi các con sông lớn hình thành nên mạng lưới sông ngòi dày đặc.
Sông Đuống chia đôi tỉnh thành nam phần và bắc phần (nam phần gồm Gia Lâm - Thuận Thành - Gia Bình - Lang Tài, bắc phần gồm Từ Sơn, Tiên Du, Quế Dương, Võ Giàng, Yên Phong). Sông Hồng bao bọc ở phía tây – tây nam, sông Cầu bao bọc phía bắc và đông bắc, sông Thái Bình bao bọc phía đông tỉnh. Trên các con đê nam phần, địch lợi dụng thiết lập các lô cốt bảo an nhằm chống lại sự tấn công của ta từ phía bắc phần. Ngoài ra còn có hệ thống sông ngòi, ao đầm nhỏ khác.
Những điều kiện này ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động quân sự đặc biệt là chiến tranh du kích của ta. Tỉnh Bắc Ninh có hệ thống giao thông phát triển từ sớm. Sân bay Gia Lâm là căn cứ quân sự quan trọng. Đường số 1 và tuyến đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn có ý nghĩa chiến lược.
Hai tuyến đường này chia các huyện bắc phần làm hai bộ phận: Phía đông – đông nam gồm huyện Quế Dương, Võ Giàng và một phần của huyện Từ Sơn, huyện Tiên Du. Phía tây – tây bắc là huyện Yên Phong, và phần còn lại của huyện Từ Sơn, Tiên Du. Đường 5 và tuyến đường sắt Hà Nội – Hải Phòng (trong kháng chiến chống Pháp thuộc địa bàn tỉnh Bắc Ninh) là huyết mạch tiếp tế của Pháp cho các cơ quan đầu nãò của chúng ở trung ương. Ngoài ra, Bắc Ninh còn có các tuyến đường quan trọng như đường 16, 18, 20, 38, 182, 284…[26, tr.
Những tuyến đường này có ý vị trí quan trọng trong chiến lược nên cả ta và địch đề tìm cách kiểm soát. Bắc Ninh vốn là tỉnh có nền kinh tế phát triển mạnh từ khá sớm. Điều kiện tự nhiên của Bắc Ninh thuận lợi cho nông nghiệp phát triển. Thổ nhưỡng chủ yếu là đất phù sa cổ.
Khí hậu nhiết đới ẩm, phân hóa theo mùa phù hợp với sự z sinh trưởng của lúa, hoa mầu, rau quả, tạo ra sự đa dạng trong sản phẩm nông nghiệp, năng suất cây trồng cao. Các ngành nghề thủ công truyền thống đa dạng. Nghề đúc đồng: Đại Bái (Gia Bình), Quảng Bố (Lương Tài), Trang Liệt (Từ Sơn)… Nghề làm sắt: Đa Hội, Đông Xuất (Yên Phong), Thị Cầu (Bắc Ninh)…, Nghề dệt: Nội Duệ, Tiêu, Hồi Quan, Tam Sơn, Yên Phụ, Tuyên Bá, Lĩnh Mai, Ngọc trì….Nghề sản xuất vật liệu xây dựng: Xuân Ổ, Vĩnh Kiều … Nghề làm gốm (Bát Tràng, Phù Lãng). Nghề chạm khắc gỗ: Phù Khê, Hương Mạc, Đồng kỵ,.
Ngoài ra còn có nhiều nghề thủ công khác như làm cày bừa (Đông Xuất), làm giấy dó (Phong khê, Xuân Ổ), làm tranh (Đông hồ), thợ nề (Vĩnh Kiều, Nội Duệ, Tiêu Sơn) …[17, tr. Thương mại ở Bắc Ninh cũng phát triển khá mạnh. Hệ thống chợ quê xuất hiện sớm không chỉ phục vụ nhu cầu của nhân dân trong vùng mà còn là nơi giao lưu buôn bán của thị dân với các vùng khác trong cả nước. Chợ Bát Tràng (Gia Lâm), chợ Giầu (Từ Sơn), chợ Lim (Tiên Du), … là những chợ nổi tiếng được nhiều người biết đến.
Hoạt động sôi nổi ấy tạo nên các làng buôn như Phù Lưu, Đình Bảng (Từ Sơn), Xuân Cầu, Đa Ngưu (Văn Giang) với khoảng 70% đến 80% số hộ trong làng làm nghề buôn [17, tr. Bắc Ninh là nơi tôn giáo xuất hiện sớm và phát triển mạnh. Phật giáo được truyền vào nước ta từ đầu Công Nguyên. Theo Thiền uyển tập anh ngữ lục, “Xứ Giao – Châu có đường thông sang Thiên Trúc.
Phật Giáo vào Trung Quốc chưa phổ cập đến miền Giang Đông mà xứ ấy đã xây ở Luy Lâu (Thuận - Thành, Hà Bắc) hơn 20 ngọn bảo tháp, độ được hơn 500 vị tăng và dịch được 15 bộ kinh rồi” [101, tr107]. Từ thế kỷ thứ X trở đi, Phật giáo nơi đây phát triển rất mạnh. Nhiều công trình kiến trúc Phật giáo như đình, chùa, đền tháp, tượng Phật z được xây dựng. Các công trình tiêu biểu như đình làng Đình Bảng, tượng Phật chùa Phật Tích, chùa Dâu, chùa Bút Tháp….
Đạo Thiên Chúa du nhập vào Bắc Ninh từ thế kỷ XVIII, xuất hiện sớm ở một số nơi như thôn Tử Nê (Lương Tài), Phượng Mao, Phong Cốc (Quế Dương), Cẩm Giang (Từ Sơn). Nho học cũng được du nhập vào nước ta từ đầu Công Nguyên gắn liền với gót chân xâm lược của phong kiến Trung Hoa. Người được coi là có công đầu truyền bá Nho học ỏ nước ta là Sĩ Nhiếp, nay còn đền thờ và lăng tại Luy Lâu (Thuận Thành). Các nhà khoa bảng nổi tiếng như Lê Văn Thịnh (quê Đông Cứu, Gia Bình) làm quan tới chức Thái sư, lưỡng quốc trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo (Tiên Du), trạng nguyên Nguyễn Giản Thanh (Hương Mạc – Từ Sơn) … đã làm rạng danh quê hương Bắc Ninh - Kinh Bắc.
Bắc Ninh còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa cổ truyền. Nơi đây là cái nôi của dân ca Quan Họ, các lễ hội truyền thống, các tín ngưỡng phồn thực và nhiều phong tục tập quán khác. Hội làng được tổ chức hàng năm, thường vào mùa xuân. các ngày hội được nhiều người biết tới như Hội Lim (13/1), hội Đồng Kỵ (4/1), hội làng Me (12/1), Mấc (13/1), hội Đền Gióng, hội chùa Dâu … Những lễ hội này góp phần làm nên sự độc đáo của văn hóa Bắc Ninh.
Theo truyền thuyết, vào thời vua Hùng Vương thứ 6, chàng trai làng Phù Đổng đánh đuổi kẻ thù xâm lược. Đến thời An Dương Vương xây thành Cổ Loa, chế tạo nỏ thần bắn được nhiều mũi tên cùng một lúc có công rất lớn của tướng quân Cao Lỗ (người thôn Tiểu Than – Gia Bình). Năm 179 trước Công Nguyên, Triệu Đà xâm lược và đặt ách thống trị trên đất nước ta. Không cam chịu thân phận nô lệ, Hai Bà Trưng lãnh đạo nhân dân nổi dậy khởi nghĩa ở Mê Linh.
Cuộc khởi nghĩa được sự hưởng ứng của nhân z dân các vùng xung quanh. Trong các biến chuyển của lịch sử như cuộc khởi nghĩa Lý Bí, công cuộc chống Tống của Lê Hoàn (năm 980), Lý Thường Kiệt (1076) đều có sự đóng góp của nhân dân Bắc Ninh. Đặc biệt, tuyến sông Như Nguyệt từng chứng kiến chiến công hiển hách của nhà Lý trước giặc Tống xâm lược. Công cuộc chống giặc Nguyên – Mông, giặc Minh của nhà Trần, nhà Lê sau này cũng có sự góp sức của nhân dân Bắc Ninh.