Tổng quan luận án

Công trình "Chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965 - 1973" của tác giả Mai Xuân Toàn là luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 62.13, nay là 62.22.03.13), được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế năm 2017 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Cung.

Về tính cấp thiết, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Quảng Bình cùng với Vĩnh Linh giữ vị trí tuyến đầu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đồng thời là hậu phương trực tiếp của cách mạng miền Nam, trọng tâm là chiến trường Trị - Thiên. Đây cũng là điểm khởi đầu và lan tỏa của tuyến đường chiến lược vận tải quân sự Trường Sơn (đường Hồ Chí Minh) chi viện cho chiến trường miền Nam cùng phong trào kháng chiến tại Nam Lào và Campuchia. Do vị trí chiến lược trọng yếu này, đế quốc Mỹ xác định Quảng Bình là "yết hầu", "nút chặn" khốc liệt nhất trong chiến tranh phá hoại miền Bắc, tập trung lực lượng lớn không quân, hải quân kết hợp gián điệp biệt kích đánh phá kéo dài từ ngày 05/08/1964, mở rộng từ ngày 07/02/1965 đến ngày 15/01/1973. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng khẳng định: "Nếu tổng kết cuộc chiến tranh phá hoại toàn diện thì cần nghiên cứu ở Quảng Bình, đánh phá giao thông vận tải phải nghiên cứu ở tuyến đường Hồ Chí Minh và đánh phá đô thị thì phải tổng kết ở Hà Nội, Hải Phòng". Dù vậy, trước thời điểm luận án hoàn thành, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống từ lý luận đến thực tiễn về cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại tại địa bàn này.

Mục đích nghiên cứu của luận án là tái hiện có hệ thống và tương đối toàn diện cuộc chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình giai đoạn chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1965 - 1973); làm rõ các đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm trong việc vận dụng đường lối chiến tranh nhân dân vào điều kiện cụ thể của địa phương; qua đó khẳng định vị trí chiến lược và vai trò của chiến tranh nhân dân Quảng Bình đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Để thực hiện mục đích trên, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, đánh giá những vấn đề đã được giải quyết và rút ra những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu.
  2. Làm rõ cơ sở hình thành và phát triển của cuộc chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965 - 1973.
  3. Tái hiện những diễn biến chính của cuộc chiến tranh nhân dân trên các mặt: hình thành thế trận chiến tranh nhân dân, sản xuất thời chiến, phòng tránh, đánh trả và đảm bảo giao thông vận tải chi viện chiến trường.
  4. Rút ra các đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm từ thực tiễn chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình giai đoạn 1965 - 1973.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cuộc chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965 - 1973, bao gồm cơ sở hình thành, phát triển và các diễn biến chính trên các lĩnh vực.
  • Phạm vi thời gian: Trọng tâm từ ngày 07/02/1965 (Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc) đến ngày 15/01/1973 (Mỹ tuyên bố chấm dứt ném bom, bắn phá miền Bắc). Một số nội dung được mở rộng về trước ngày 07/02/1965 để làm rõ công tác chuẩn bị và các hoạt động đánh phá hạn chế của địch từ ngày 05/08/1964.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn tỉnh Quảng Bình gồm thị xã Đồng Hới và 6 huyện: Quảng Trạch, Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thủy, Tuyên Hóa, Minh Hóa; có mở rộng liên hệ đến địa bàn Quân khu 4 tại các trọng điểm giao thông và tiếp nhận hàng hóa.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào quá trình hình thành thế trận chiến tranh nhân dân, chuyển hướng kinh tế thời chiến đảm bảo hậu cần tại chỗ, công tác phòng tránh, đánh trả không quân - hải quân, chống gián điệp biệt kích và mặt trận giao thông vận tải chi viện chiến trường.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả Mai Xuân Toàn phân chia các công trình nghiên cứu đi trước thành hai nhóm chính:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về chiến tranh nhân dân Việt Nam:

  • Nghiên cứu trong nước: Các tác phẩm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp như Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng ta (1970), Nắm vững đường lối chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1972), Chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (1979); Đại tướng Văn Tiến Dũng với Chiến tranh nhân dân quốc phòng toàn dân, tập 2 (1979); các công trình của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1982, 1983, 1997, 2013, 2015); Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995, 2000); Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh (1995); Bộ Tổng Tham mưu (2001). Các tài liệu này tập trung đúc kết lý luận, đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, xây dựng hậu phương và lực lượng phòng không ba thứ quân.
  • Nghiên cứu ngoài nước: Các tác giả quốc tế tiếp cận từ góc độ đối sách và hậu quả của chiến tranh ngăn chặn như Mc. Kahin và John Lewis (1967) trong The US in Vietnam; Hoopes (1969) trong The limits of intervention; Jon Vandyke (1972) trong North’s Vietnam Strategy for survival; Báo cáo của Thượng viện Mỹ do Government Printing Office ấn hành (1973); Gabriel Kolko (1985) trong Anatomy of a War: Vietnam, the United States and the Modern Historical Experience.

Thứ hai, các công trình nghiên cứu về chiến tranh nhân dân và mặt trận giao thông tại Quân khu 4 và Quảng Bình:

  • Công trình của Quân khu 4: Bộ Tư lệnh Quân khu 4 và các cơ quan tham mưu đã xuất bản các chuyên khảo về mặt trận giao thông vận tải (2001), tổng kết chiến thuật (2005), lịch sử hậu cần (2007), lịch sử dân quân tự vệ (2012), lịch sử Quân khu 4 tập 2 (2015).
  • Công trình về tuyến đường Trường Sơn: Cục Chính trị - Tổng cục Xây dựng kinh tế (1979), Đoàn Thị Lợi (2004), Phan Hữu Đại và Nguyễn Quốc Dũng (1999), Nguyễn Thế Kỷ và Nguyễn Sĩ Cứ (2009).
  • Công trình địa phương và ngành tại Quảng Bình: Lịch sử Đảng bộ Quảng Bình tập II (2000); Lịch sử Đảng bộ Quân sự tỉnh (2010); Lịch sử Quảng Bình chống Mỹ, cứu nước 1954-1975 của Thường vụ Tỉnh ủy và Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh (1994); các lịch sử ngành phụ nữ, y tế, công đoàn, bộ đội biên phòng, giao thông vận tải, công an, nông nghiệp hợp tác xã và lịch sử Đảng bộ các huyện Lệ Thủy, Quảng Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hóa.
  • Các luận án, luận văn chuyên khảo: Luận án tốt nghiệp của Nguyễn Khắc Thái (1977) về lực lượng dân quân tự vệ giai đoạn 1965 - 1968; khóa luận của Lê Văn Lợi (1977) về mặt trận giao thông vận tải giai đoạn 1965 - 1968; luận văn thạc sĩ của Đinh Phan Thủy Yến (2006), Thái Thị Lợi (2007), Phan Thị Trà Giang (2010); luận án tiến sĩ của Trần Như Hiền (2016) về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh thực hiện nhiệm vụ hậu phương (1964 - 1975).
  • Công trình của tác giả nước ngoài viết riêng về địa bàn: Peter Weiss (1968) với Réponse à Johnson sur les bombardements limités và Alain Wasmes (1976) với Vietnam, la peau du pachyderme, miêu tả mức độ tàn phá khốc liệt của bom đạn tại Đồng Hới, Ba Đồn và khả năng thích ứng của người dân.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Hầu hết các công trình đã công bố chỉ tiếp cận chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình dưới từng khía cạnh riêng lẻ (như công tác dân quân tự vệ, giao thông vận tải, phong trào phụ nữ, hoặc vai trò hậu phương) và phần lớn chỉ dừng lại ở giai đoạn 1965 - 1968. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống về một công trình chuyên khảo lịch sử quân sự hoàn chỉnh, nghiên cứu liên tục từ năm 1965 đến năm 1973, kết hợp đầy đủ các mặt: phòng tránh, đánh trả, chuyển hướng kinh tế, bảo đảm giao thông và chi viện chiến trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án triển khai trên nền tảng cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân. Các khái niệm và phạm trù cốt lõi bao gồm: tư tưởng "toàn dân đánh giặc, cả nước đánh giặc", kết hợp lực lượng vũ trang ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ), thế trận chiến tranh nhân dân, làng xã chiến đấu, phương châm "vừa sản xuất vừa chiến đấu", kết hợp phòng tránh với đánh trả, xây dựng hậu phương tại chỗ gắn liền với chi viện tiền tuyến lớn.

Về phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp chủ đạo: Phương pháp lịch sử và phương pháp lô-gic. Tác giả kết hợp chặt chẽ việc trình bày các sự kiện theo tiến trình thời gian khách quan (lịch sử) với việc phân tích, khái quát bản chất các hiện tượng, rút ra các đặc điểm và quy luật vận động của chiến tranh nhân dân địa phương (lô-gic).
  • Các phương pháp bổ trợ: Phương pháp văn bản học (giám định, đối chiếu độ tin cậy của các chỉ thị, chỉ dụ, báo cáo tác chiến); phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh lịch sử; phương pháp điền dã kết hợp phỏng vấn nhân chứng lịch sử; phương pháp chuyên gia thông qua việc trao đổi ý kiến với các tướng lĩnh, sĩ quan và cán bộ lãnh đạo thời kỳ kháng chiến.

Nguồn tư liệu thực hiện luận án được khai thác trực tiếp từ các trung tâm lưu trữ:

  • Chi cục Văn thư Lưu trữ tỉnh Quảng Bình.
  • Phòng Lưu trữ – Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Bình.
  • Phòng Khoa học Quân sự (Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Bình).
  • Phòng Tư liệu Quân khu 4.
  • Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III (Hà Nội). Hệ thống văn bản lưu trữ bao gồm các nghị quyết, chỉ thị, công điện, biên bản họp và báo cáo tổng kết của Trung ương Đảng, Chính phủ, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 4, Tỉnh ủy, Ủy ban Hành chính tỉnh Quảng Bình và các ban ngành, huyện thị trong giai đoạn 1965 - 1973.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 (16 trang) phân tích lịch sử nghiên cứu vấn đề trong và ngoài nước; phân loại các nhóm tài liệu về chiến tranh nhân dân Việt Nam, chiến tranh nhân dân Quân khu 4 và các công trình chuyên biệt về Quảng Bình. Trên cơ sở tổng thuật các ấn phẩm, tác giả xác định 7 vấn đề trọng tâm cần tiếp tục nghiên cứu:

  1. Cơ sở hình thành và phát triển của chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình những năm 1965 - 1973.
  2. Sự hình thành thế trận chiến tranh nhân dân tại địa bàn.
  3. Chuyển hướng kinh tế và duy trì sản xuất đảm bảo hậu cần tại chỗ.
  4. Bảo đảm giao thông vận tải (mở đường, giữ đường, vận tải chiến lược).
  5. Công tác phòng không nhân dân (phòng tránh và đánh trả).
  6. Đấu tranh chống chiến tranh gián điệp, biệt kích của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.
  7. Đúc kết đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm.

Chương 2: Cơ sở hình thành và phát triển của chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ những năm 1965 - 1973

Chương 2 (50 trang) làm rõ các nhân tố tạo nên nền tảng của chiến tranh nhân dân Quảng Bình:

Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội:

  • Địa bàn: Diện tích 8.065,27 km², tọa độ giới hạn từ 17°05’02” đến 18°05’12” vĩ độ Bắc và 105°36’55” đến 106°59’37” kinh độ Đông. Địa hình dốc, hẹp ngang nhất cả nước (nơi hẹp nhất 40,5 km, nơi rộng nhất 94,2 km), phân thành 4 vùng rõ rệt:
Vùng địa hình Diện tích Tỷ lệ tự nhiên Đặc điểm quân sự - dân sinh
Rừng núi phía Tây 5.236,16 km² 65,00% Rừng núi hiểm trở, nhiều sông suối; thuận lợi giấu quân, kho tàng, đặt tuyến đường Trường Sơn nhưng dễ bị biệt kích xâm nhập.
Gò đồi 1.677,95 km² 19,70% Độ cao 50 - 250m; vùng đệm giữa núi và đồng bằng; địa bàn thuận lợi sơ tán, giãn dân, lập công trình vòng tránh.
Đồng bằng 866,90 km² 10,95% Hạ lưu các sông, tập trung đường sá, cầu phà và trên 90% dân số; thuận lợi huy động nhân lực nhưng khó bảo vệ mục tiêu.
Ven biển Bờ biển 116 km — Nhiều cồn cát trống trải; có các cảng Gianh, Roòn, Nhật Lệ, đảo Hòn La, Hòn Gió, Hòn Nấm; chịu pháo kích trực tiếp từ tàu chiến Mỹ.
  • Khí hậu và thủy văn: Hệ thống sông ngòi ngắn, dốc chảy hướng Tây - Đông (sông Roòn, sông Gianh với 4 nguồn: Rào Nậy, Rào Trổ, Rào Nam, Rào Son; sông Lý Hòa; sông Dinh; sông Nhật Lệ gồm nguồn Kiến Giang và Long Đại). Mùa mưa bão từ tháng 9 đến tháng 12 gây lũ chia cắt; gió mùa Đông Bắc và sương mù hạn chế tầm nhìn từ tháng 1 đến tháng 3.
  • Dân số và kinh tế trước năm 1965: Dân số toàn tỉnh khoảng 41 vạn người (miền núi chỉ có khoảng 4.000 đồng bào Vân Kiều, Chứt; vùng biển 24.000 người; Thiên Chúa giáo khoảng 5 vạn người). Đến năm 1960 có 95% số hộ vào hợp tác xã nông nghiệp. Toàn tỉnh nổi bật với mô hình Hợp tác xã Đại Phong (Lệ Thủy) và Hợp tác xã nghề cá Quang Phú (Đồng Hới). Năm 1962, sản lượng lương thực đạt 119.290 tấn (bình quân 329 kg/người). Toàn tỉnh có 31 xí nghiệp quốc doanh và 116 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp (Cơ khí 3-2, cưa mộc Ba Đồn, xí nghiệp đá Bến Tiêm, đóng tàu Đồng Hới...). Các nông trường quân đội như Nông trường 1-5, Nông trường Việt - Trung (có năng lực sửa chữa 1.000 ô tô/năm), Lệ - Ninh giữ vai trò hậu phương kinh tế - quốc phòng.
  • Truyền thống: Kế thừa di sản các làng chiến đấu thời kháng chiến chống Pháp như Cự Nẫm, Cảnh Dương, Hoàn Lão, Hiển Lộc, Hưng Đạo ("Quảng Bình quật khởi"). Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn khi vào thăm ngày 16/06/1957: "Quảng Bình cùng với Vĩnh Linh ở tuyến đầu miền Bắc, tiếp giáp miền Nam... Nếu kẻ địch có hành động gì, thì Quảng Bình, Vĩnh Linh phải đương đầu với chúng trước hết và phải đánh thắng chúng trước hết".

Thực trạng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ:

  • Phá hoại bằng gián điệp, biệt kích: Từ tháng 06/1961 đến tháng 07/1964, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tung 10 toán biệt kích với gần 100 tên. Giai đoạn 1965 - 1968 tung thêm 28 vụ biệt kích, thám báo dù và đường sông biển. Ngày 23/01/1965 pháo kích Đông Thành. Năm 1965 bắt 5 vụ thuyền (34 ngư dân), cài cắm lại 7 điệp viên. Năm 1967 vây bắt 80 lần tàu thuyền, bắt 267 ngư dân; thả 1.000 máy radio đơn kênh và 33 kiện hàng tâm lý chiến. Hoạt động thám báo bị đình chỉ chính thức vào tháng 11/1968 theo lệnh từ Washington gửi đơn vị SOG (do Đại tá Cavanaugh chỉ huy).
  • Phá hoại bằng không quân và hải quân: Diễn qua hai cuộc chiến tranh phá hoại lớn và giai đoạn tạm ngừng ném bom:
Giai đoạn đánh phá Thời gian Quy mô, tính chất và thủ đoạn chủ yếu Thiệt hại và tác động ghi nhận tại văn bản
Phá hoại lần thứ nhất (Leo thang) 07/02/1965 - 31/03/1968 Mở đầu bằng chiến dịch Flaming Dart (07/02/1965), tiếp nối bởi Rolling Thunder (02/03/1965). Đánh phá tập trung trọng điểm giao thông (Tú Loan, Khe Ve, Cà Tang, phà Gianh, Quán Hàu, Long Đại). Pháo 175ly từ Dốc Miếu bắn phá Nam Quảng Bình; pháo hạm từ ngày 14/02/1967 dọc bờ biển. Đánh phá 68 công trình thủy lợi (thủy nông Đá Mài bị phá hủy hoàn toàn), cắt 72 km đê biển. Đến tháng 12/1966: 1 vạn nhà ở tại 5 khu phố Đồng Hới, Ba Đồn, 8 xã, 77 làng bị tàn phá nặng; hơn 2.000 trâu bò bị giết. Riêng bước 3 đánh phá 18.885 lần.
Phá hoại lần thứ nhất (Xuống thang) 01/04/1968 - 01/11/1968 Ném bom hạn chế vĩ tuyến 20 trở vào. Huy động 79.000 lần máy bay chiến thuật/B.52 và 96 lần tàu chiến dồn lực đánh nghẽn vùng "cán soong". Đánh bom bổ sung gối đầu, rải bom từ trường tại các cuống họng giao thông. Tạo thành các điểm tắc nghiêm trọng tại Ca Tang, Khe Ve, Long Đại (Đường 15), Bãi Dinh (Đường 12), km 20, km 44-48, km 67-68 (Đường 20). Vận tải cơ giới đường bộ tê liệt; xe thiếu xăng buộc Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên báo cáo khẩn về Bộ.
Giai đoạn ngừng ném bom 01/11/1968 - 05/04/1972 Ngừng ném bom miền Bắc nhưng duy trì trinh sát vũ trang. Tháng 11/1968 tiến hành 162 phi vụ trinh sát. Ba tháng đầu năm 1969 tiến hành 609 lần trinh sát vũ trang. Đánh phá nghi binh ngày 21/11/1970 (vụ Sơn Tây). Đánh bom lẻ tẻ làm 75 người chết, 161 người bị thương, cháy 33 ô tô; ném bom 22 khu dân cư làm 89 người chết, 143 người bị thương. Biệt kích đổ bộ đồi A Chốc (cuối tháng 02/1969) và dãy Giăng Màn.
Phá hoại lần thứ hai 06/04/1972 - 15/01/1973 Mở đầu bằng hơn 500 quả pháo hạm dọc bờ biển ngày 06/04/1972. Tháng 05/1972 phong tỏa thủy lôi toàn diện. Sử dụng vũ khí điều khiển chính xác (bom laze, tên lửa dẫn đường), tăng cường B.52 (đỉnh điểm 700 lần chiếc/ngày). Tuyến Bến Thủy - Gianh (công suất 4.000 tấn/tháng) bị nghẽn. Tại cảng Hòn La, Mỹ huy động 1.500 lần máy bay, đánh trên 700 trận, ném gần 1.000 loạt bom phá, 149 loạt bom bi, 540 loạt rốc-két, 6.006 loạt đạn 20ly, 149 bom từ trường.

Chủ trương chuyển hướng kinh tế và hậu cần tại chỗ: Tỉnh ủy ban hành các nghị quyết chuyển toàn bộ nền kinh tế sang thời chiến: phân tán 31 xí nghiệp công nghiệp quốc doanh và 116 cơ sở tiểu thủ công nghiệp về các hang đá, vùng đồi nhằm phục vụ tại chỗ vật liệu làm đường (gỗ, đá Bến Tiêm) và nhu yếu phẩm; kiện toàn các hợp tác xã nông nghiệp bám ruộng đồng sản xuất vào ban đêm, bảo đảm lương thực thường trực cho lực lượng chiến đấu và vận tải quân sự.

Chương 3: Quân dân Quảng Bình tiến hành chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ những năm 1965 - 1973

Chương 3 (66 trang) là chương nội dung phản ánh thực tiễn tác chiến và phục vụ chiến đấu:

  • Công tác phòng không nhân dân: Triển khai thế trận phòng tránh tại chỗ thông qua hệ thống hầm chữ A, hào giao thông liên hoàn nối từ nhà ra đồng ruộng, công sở ngầm. Tiến hành sơ tán, giãn dân quy mô lớn khỏi thị xã Đồng Hới, thị trấn Ba Đồn và các vùng ven trục đường giao thông huyết mạch, đưa dân cư lên vùng đồi gò tiếp giáp cận sơn để giảm thiểu thương vong và duy trì lớp học, trạm y tế dưới hầm.
  • Chiến đấu chống chiến tranh phá hoại: Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân rộng khắp. Phối hợp giữa công an nhân dân vũ trang, dân quân du kích và nhân dân địa phương tổ chức các đợt bao vây, truy lùng, tiêu diệt và bắt sống các toán biệt kích, thám báo nhảy dù xuống khu vực biên giới miền Tây (như tại Thanh Lạng, đồi A Chốc, dãy Giăng Màn); đánh trả tàu biệt kích xâm nhập bờ biển. Bố trí mạng lưới súng bộ binh, súng máy phòng không 12,7ly, 14,5ly của dân quân tự vệ kết hợp với bộ đội cao xạ, tên lửa chủ lực tạo lưới lửa tầm thấp, đón lõng máy bay bổ nhào; tổ chức các trận địa pháo bờ biển cố định và cơ động đánh trả tàu chiến Mỹ bắn phá dải duyên hải từ Đèo Ngang đến Cửa Tùng.
  • Mặt trận đảm bảo giao thông vận tải chi viện chiến trường: Đây là mặt trận nóng bỏng, quyết liệt và kéo dài nhất. Quân và dân toàn tỉnh tham gia mở đường mới, khôi phục mặt đường bị cày xới, phá bom nổ chậm, phá bom từ trường trên các tuyến Quốc lộ 1, Đường 15, Đường 12, Đường 20 Quyết Thắng; bảo đảm thông suốt các bến vượt sông trọng điểm như phà Gianh, phà Quán Hàu, phà Long Đại, Xuân Sơn. Tổ chức mạng lưới vận tải đường sông (sông Gianh, sông Nhật Lệ), đường biển (cảng Hòn La, Nhật Lệ) bốc dỡ hàng triệu tấn hàng hóa từ hậu phương miền Bắc trung chuyển sang hệ thống đường Trường Sơn chi viện cho tiền tuyến Trị - Thiên và chiến trường miền Nam.

Chương 4: Đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình những năm 1965 - 1973

Chương 4 (39 trang) đúc kết các luận điểm khái quát:

  • Bốn đặc điểm nổi bật:
    1. Chiến tranh nhân dân đối đầu với một cuộc chiến tranh phá hoại kéo dài, liên tục và có quy mô tàn phá khốc liệt nhất miền Bắc.
    2. Thế trận chiến tranh nhân dân được triển khai đồng bộ trên toàn bộ địa bàn tỉnh, có sự kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, công an, thanh niên xung phong và toàn thể nhân dân.
    3. Cuộc chiến diễn ra toàn diện trên khắp các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, trong đó mặt trận giao thông vận tải giữ vị trí nóng bỏng, quyết định nhất.
    4. Trình độ tổ chức và nghệ thuật chiến tranh nhân dân địa phương có bước phát triển vượt bậc theo thời gian, thích ứng linh hoạt trước mọi bước leo thang kỹ thuật của không quân và hải quân Mỹ.
  • Ba ý nghĩa lịch sử:
    1. Góp phần quan trọng cùng quân dân toàn miền Bắc đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, bảo vệ vững chắc thành quả xây dựng chủ nghĩa xã hội.
    2. Hoàn thành trọn vẹn nhiệm vụ của hậu phương trực tiếp đối với cách mạng miền Nam, bảo đảm mạch máu giao thông chi viện sức người, sức của cho chiến trường Trị - Thiên, tuyến Trường Sơn và cách mạng Lào.
    3. Làm dày thêm các giá trị sống, tinh thần kiên cường của cộng đồng cư dân địa phương, khẳng định vị thế xứng đáng của Quảng Bình cùng Vĩnh Linh là tuyến đầu bất khả xâm phạm của miền Bắc.
  • Ba bài học kinh nghiệm:
    1. Chủ động vận dụng sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc thù của địa phương.
    2. Nâng cao tinh thần tự lực, tự cường, phát huy thế chủ động phòng tránh và đánh trả kiên quyết trong mọi tình huống bị bao vây, cô lập và phong tỏa ngăn chặn.
    3. Gắn liền việc xây dựng thế trận chiến đấu với củng cố hệ thống chính trị cơ sở và chuyển dịch kinh tế - xã hội hợp lý nhằm giải quyết tốt hậu cần tại chỗ.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định ba đóng góp khoa học và thực tiễn:

  • Về mặt học thuật: Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống, tương đối đầy đủ và chuyên sâu về toàn bộ tiến trình chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại tại Quảng Bình từ năm 1965 đến năm 1973; lấp đầy khoảng trống lịch sử quân sự địa phương giai đoạn kháng chiến chống Mỹ.
  • Về mặt nhận thức lịch sử: Luận án làm rõ các cơ sở hình thành, phát triển và những diễn biến chính của cuộc chiến tranh nhân dân; chứng minh sự sáng tạo của cấp ủy Đảng và quân dân địa phương trong việc vận dụng đường lối quân sự của Trung ương; đúc kết hệ thống 4 đặc điểm, 3 ý nghĩa lịch sử và 3 bài học kinh nghiệm sâu sắc.
  • Về giá trị thực tiễn: Công trình cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử xác thực, có độ tin cậy cao phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy lịch sử quân sự, lịch sử Đảng bộ địa phương; cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan quân sự, quốc phòng tham khảo hoạch định chính sách xây dựng khu vực phòng thủ và củng cố nền quốc phòng toàn dân trong điều kiện mới.

Các kiến nghị, đề xuất giải pháp của luận án tập trung vào việc: tiếp tục vận dụng bài học kết hợp kinh tế với quốc phòng, bố trí công trình phòng thủ liên hoàn tại các địa bàn trọng điểm ven biển và miền núi; kiện toàn lực lượng dân quân tự vệ cơ sở; gìn giữ và số hóa nguồn tài liệu lưu trữ kháng chiến nhằm phục vụ công tác giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án bị giới hạn bởi khung thời gian 1965 - 1973 và không gian hành chính tỉnh Quảng Bình, do đó chưa có điều kiện khảo sát liên tục đến ngày toàn thắng 30/04/1975; một số tư liệu hồ sơ tác chiến tuyệt mật từ phía quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn chưa thể tiếp cận trọn vẹn do rào cản lưu trữ quốc tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng theo dõi vai trò hậu cần của quân dân Quảng Bình trong giai đoạn 1973 - 1975 phục vụ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975; thực hiện các nghiên cứu so sánh chuyên sâu về thế trận chiến tranh nhân dân giữa Quảng Bình với các địa bàn lân cận như Vĩnh Linh (Quảng Trị) và Hà Tĩnh; đi sâu khảo sát chuyên đề về từng lực lượng cụ thể như thanh niên xung phong, dân quân nữ và bộ đội vận tải đường sông, đường biển trên địa bàn tỉnh.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên thuộc các chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Quân sự tại các trường đại học, viện nghiên cứu và học viện quân sự.
  • Các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương, ban tuyên giáo các cấp, ban chỉ huy quân sự các huyện, thị xã, tỉnh phục vụ công tác biên soạn lịch sử cách mạng, giáo dục truyền thống yêu nước.
  • Các cơ quan tham mưu quốc phòng, an ninh tham khảo các bài học kinh nghiệm về tổ chức phòng không nhân dân, sơ tán dân cư, phân tán kinh tế thời chiến và xây dựng thế trận hậu cần khu vực phòng thủ.
  • Những phần đáng tham khảo nhất: Chương 2 và Chương 3 với hệ thống tư liệu lưu trữ chi tiết về các thủ đoạn đánh phá của Mỹ, số liệu về mạng lưới giao thông vận tải và các mô hình hợp tác xã vừa sản xuất vừa chiến đấu; hệ thống danh mục tài liệu tham khảo gồm 224 đầu mục chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

1. Vị trí địa - chiến lược của Quảng Bình được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định như thế nào trong kháng chiến chống Mỹ?
Quảng Bình cùng với Vĩnh Linh được xác định là tuyến đầu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, là hậu phương trực tiếp của chiến trường miền Nam (trực tiếp là Mặt trận Trị - Thiên), đồng thời là cửa ngõ khởi đầu của tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn chi viện cho Nam Lào, Campuchia và miền Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khi vào thăm ngày 16/06/1957 đã chỉ rõ: nếu kẻ địch có hành động quân sự phá hoại thì Quảng Bình, Vĩnh Linh phải đương đầu trước hết và phải đánh thắng chúng trước hết.

2. Chiến thuật ngăn chặn giao thông vận tải của Mỹ tại Quảng Bình có điểm gì đặc thù trong giai đoạn ném bom hạn chế năm 1968?
Từ tháng 04 đến tháng 10/1968, khi tuyên bố ném bom hạn chế từ vĩ tuyến 20 trở vào, Mỹ đã dồn toàn bộ hỏa lực không quân (79.000 lần máy bay) và hải quân đánh nghẽn vùng "cán soong" Quảng Bình. Địch áp dụng thủ đoạn đánh điểm kết hợp khống chế toàn tuyến: đánh sập cầu phà, khi ta mở đường tránh thì đánh bít hai đầu đoạn mới và đánh bổ sung vào điểm cũ, rải dày đặc bom từ trường và bom nổ chậm trước mùa mưa để bùn nhão gây tắc đường kéo dài 2 - 3 km (như tại Ca Tang, Khe Ve, Long Đại, Đường 20), làm tê liệt phương tiện cơ giới chi viện.

3. Kinh tế Quảng Bình đã chuyển hướng sang thời chiến như thế nào để bảo đảm hậu cần tại chỗ?
Dựa trên nền tảng phong trào hợp tác xã nông nghiệp vững chắc (ngọn cờ đầu Đại Phong), tỉnh đã tổ chức xã viên bám đất sản xuất ban đêm, duy trì các công trình thủy nông. Đồng thời, tỉnh phân tán 31 xí nghiệp công nghiệp quốc doanh và 116 cơ sở tiểu thủ công nghiệp về vùng gò đồi, cận sơn, tận dụng nguyên liệu đá, gỗ tại chỗ (xí nghiệp đá Bến Tiêm, cưa mộc Ba Đồn, đóng tàu Đồng Hới) để sản xuất vật liệu sửa đường, làm hầm hào phòng tránh và cung ứng hàng tiêu dùng thiết yếu cho quân dân.

4. Mặt trận nào được coi là nóng bỏng nhất của chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong giai đoạn này?
Mặt trận giao thông vận tải là mặt trận nóng bỏng, ác liệt nhất. Hơn 17.000 trong tổng số 18.885 lần đánh phá của địch ở bước 3 leo thang đều nhằm vào giao thông. Toàn dân Quảng Bình cùng công binh, thanh niên xung phong đã kiên cường mở đường, bám phà, tháo gỡ bom nổ chậm, bom từ trường tại các tọa độ lửa (Xuân Sơn, Quán Hàu, phà Gianh, Đường 20 Quyết Thắng) để duy trì thông suốt huyết mạch vận tải cho tiền tuyến.

5. Những bài học kinh nghiệm lớn nhất rút ra từ cuộc chiến tranh nhân dân tại Quảng Bình là gì?
Ba bài học cốt lõi gồm: chủ động vận dụng sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng phù hợp đặc thù địa phương; phát huy tinh thần tự lực, tự cường, chủ động phòng tránh và đánh trả kiên quyết trong thế bị chia cắt, phong tỏa; gắn kết chặt chẽ thế trận chiến đấu với việc củng cố hệ thống chính trị và phát triển kinh tế - xã hội địa phương để tự chủ hậu cần tại chỗ.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Mai Xuân Toàn đã phục dựng một cách chân thực, toàn diện và có hệ thống diễn trình chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại tại Quảng Bình giai đoạn 1965 - 1973 dựa trên nguồn tư liệu lưu trữ xác tín. Tác phẩm phân tích sâu sắc các mối quan hệ biện chứng giữa phòng tránh với đánh trả, giữa sản xuất thời chiến với chiến đấu, giữa nhiệm vụ bảo vệ hậu phương với chi viện mạch máu giao thông cho tiền tuyến lớn. Công trình đúc kết những đặc điểm, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm sâu sắc, đóng góp thiết thực vào kho tàng lịch sử quân sự dân tộc và cung cấp luận cứ khoa học cho sự nghiệp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân hiện nay.