phần Mở đầu (12 trang), Kết luận (5 trang), Tài liệu tham khảo (8 11 trang), Phụ lục (28 trang), nội dung chính của luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng. Cụ thể: Chƣơng 1: Những yếu tố tác động đến quá trình hình thành và hoạt động của căn cứ địa Bời Lời (31 trang) Chƣơng 2: Quá trình xây dựng, bảo vệ và hoạt động của căn cứ địa Bời Lời (1945 – 1975) (51 trang) Chƣơng 3: Đặc điểm, vai trò của căn cứ Bời Lời trong chiến tranh giải phóng dân tộc (30 trang). 12 CHƢƠNG 1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CĂN CỨ ĐỊA BỜI LỜI 1. Địa lý tự nhiên và hành chính vùng đất Bời Lời 1.
Địa lý tự nhiên Bời Lời là vùng đất thuộc xã Đôn Thuận (Thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh), nằm về hƣớng Đông Bắc của Thị xã Trảng Bàng, giới hạn trong phạm vi kinh độ, vĩ độ địa lý: từ 106021' đến 106026' kinh độ Đông và từ 10002' đến 11008' vĩ độ Bắc, gồm có 6 ấp (Bà Nhã, Bến Kinh, Sóc Lào, Thuận Tâm, Trảng Cỏ, Trảng Sa), tiếp giáp ranh giới với các đơn vị hành chính sau: - Phía Đông: giáp xã Hƣng Thuận và tỉnh Bình Dƣơng. - Phía Tây: giáp xã Phƣớc Đông, xã Bàu Đồn của huyện Gò Dầu. - Phía Nam: giáp phƣờng Lộc Hƣng, phƣờng Gia Lộc, xã Hƣng Thuận. - Phía Bắc: giáp tỉnh Bình Dƣơng và xã Bến Củi của huyện Dƣơng Minh Châu.
Với diện tích khoảng 58,58 km2, dân số 12.332 ngƣời1, mật độ dân số khoảng 207 ngƣời/km2, xã Đôn Thuận cách trung tâm Thị xã Trảng Bàng khoảng 21km, có vị trí địa lý và giao thông thuận lợi. Đƣờng thủy có sông Sài Gòn nằm cặp về hƣớng Đông của xã, từ Cầu Tàu (Dầu Tiếng) đến Bùng Binh dài 13km là con đƣờng thuỷ giao lƣu kinh tế từ các tỉnh miền Tây lên miền Đông. Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, con sông này trở thành đƣờng vận chuyển chiến lƣợc của cả ta và địch. Đoạn sông từ Bùng Binh lên Cầu Tàu (Dầu Tiếng) uốn khúc, sầm uất có nhiều địa thế chiến đấu, quân dân xã Đôn Thuận cùng với quân dân các xã bạn bằng nhiều cách đánh mƣu trí linh hoạt đã nhận chìm tàu chiến của giặc.
Về đƣờng bộ, xã có các đƣờng bộ chính: lộ 6 nối liền với trung tâm Thị xã Trảng Bàng; lộ 15 đi qua trung tâm xã, hƣớng Tây Bắc của xã có lộ 19 từ ngã ba Bàu Đồn xuyên rừng lên Bà Nhã giáp lộ 15; phía Bắc của xã có lộ 26 từ ngã ba 1 Theo số liệu của Chi cục thống kê Thị xã Trảng Bàng (tỉnh Tây Ninh) ngày 12/01/2021. 13 Đất Sét đến Cầu Tàu (Dầu Tiếng). Sau khi Hiệp định Genève đƣợc ký kết, chính quyền Ngô Đình Diệm đƣa hàng ngàn dân di cƣ từ miền Bắc vào lập khu dinh điền ở ấp Trảng Sa, chúng đắp một con lộ sỏi từ Suối Bà Tƣơi về rừng Trảng Sa. Năm 1969, để thực hiện kế hoạch ủi rừng, phá căn cứ Bời Lời, giặc Mỹ đắp một con lộ sỏi từ ngã ba cầu Xe qua Trảng Cỏ, gọi là lộ 15 cụt, từ đó, Mỹ - ngụy tạo đƣợc thế giao thông trong toàn xã rất cơ động (Ban chấp hành Đảng bộ xã Đôn Thuận, 2017).
Khí hậu Đôn Thuận đƣợc hình thành từ tác động luân phiên của các khối khí của lục địa châu Á và khối khí của Thái Bình Dƣơng từ vịnh Thái Lan sang biển Đông. Do cƣờng độ và phạm vi hoạt động của các khối không khí nói trên chuyển động theo mùa, cho nên khí hậu xã Đôn Thuận đƣợc chia thành hai mùa rõ rệt. Mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 10, hay còn gọi là thời kì “gió mùa mùa hạ”, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, hay còn gọi là thời kì “gió mùa mùa đông”. Ở Đôn Thuận không có khái niệm bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông nhƣ miền Bắc Việt Nam mà nhìn chung ổn định.
Mùa mƣa của Đôn Thuận trùng với gió mùa tây - nam. Lƣợng mƣa hàng năm trung bình đạt 1. Mƣa phân bố không đều, có khi rất lớn và liên tục, có khi lác đác và đôi khi có mƣa ngay trong mùa khô và trong ngày Tết. Nhìn chung vùng đất Đôn Thuận có chế độ nhiệt đới gió mùa, thể hiện rất rõ giữa mùa mƣa và mùa khô, đƣợc xem là xứ “nóng ẩm mƣa nhiều” và hầu nhƣ không có rét lạnh hay bão, lũ.
Phong cảnh cao ráo, hanh khô của Đôn Thuận rất đặc trƣng cho vùng đất ĐNB, đặc biệt với điều kiện nắng ẩm mƣa nhiều (độ ẩm không khí trung bình năm khoảng 70 – 86%), cho nên Đôn Thuận có nguồn động thực vật vô cùng phong phú, là nguồn cung cấp chính về gỗ và đặc sản thú rừng nhƣ nai, cheo, hổ, heo rừng, ong, dầu rái, mù u,… cho nhân dân trong vùng. Địa hình tƣơng đối bằng phẳng, chủ yếu là ruộng lúa, độ dốc hầu hết nhỏ hơn 80, có vùng phân bố trầm tích phù sa cổ, nền móng tƣơng đối vững. Địa hình của xã Đôn Thuận mang đậm vùng đồng bằng ĐNB, là điểm tiếp nối giữa miền cao nguyên và miền duyên hải theo hƣớng nghiêng dần từ đông - bắc xuống tây - nam. Độ cao trung bình của toàn thị xã từ 3m đến 9m so với mặt biển và không 14 có ngọn núi nào.
Vì vậy nên rất phù hợp với nhiều loại cây trồng nhƣ: mía, mì, lúa và những loại cây đặc sản có giá trị kinh tế cao nhƣ: Cao su, đậu phộng, tiêu, điều và hoa màu các loại; đồng thời còn thuận lợi cho việc xây dựng các công trình nhƣ: giao thông, công nghiệp, các ngành phụ trợ phát triển nông nghiệp. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, xã Đôn Thuận có rừng rậm liên hoàn từ Củ Chi đến chiến khu Dƣơng Minh Châu. Xã Đôn Thuận nằm trong khu “Tam giác sắt”2 (Trảng Bàng - Bến Cát - Củ Chi thuộc Tây Ninh, Bình Dƣơng và Sài Gòn), có rừng Bời Lời là căn cứ địa cách mạng, tiến công thuận lợi, phòng thủ vững chắc, có hành lang quần chúng rất đông để bảo vệ, cách trung tâm Sài Gòn 40km theo đƣờng chim bay, do đó, xã Đôn Thuận là địa bàn chiến lƣợc, nơi trú đóng của Xứ uỷ, Bộ tƣ lệnh Phân liên khu miền Đông, Tỉnh uỷ Tây Ninh , Huyện uỷ Trảng Bàng, Đặc khu Sài Gòn - Gia Định, nên kẻ thù đánh phá ác liệt, xem nơi đây là vùng tự do bắn phá, rải chất độc hoá học huỷ diệt rừng để biến xã Đôn Thuận thành vùng trắng. Trƣớc sự đánh phá của kẻ thù, dƣới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Trảng Bàng, trực tiếp là Đảng bộ xã, quân dân trong xã vƣợt qua mọi hy sinh gian khổ, kiên cƣờng bám trụ vừa sản xuất, vừa chiến đấu bẻ gãy mọi cuộc càn quét của địch, góp phần vào thắng lợi chung của quân dân trong huyện.
Địa lý hành chính Trong bối cảnh chung của Nam Bộ trƣớc thế kỷ XVII, vùng đất Bời Lời nói riêng và Tây Ninh nói chung vẫn còn là vùng đất hoang vu, chƣa đƣợc khai thác nhiều, có nhiều rừng rậm và thú dữ dân cƣ còn rất thƣa thớt, thậm chí là hoang vắng bóng ngƣời. Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Minh: “Tây Ninh vốn là một vùng đất hoang vu, với tên gọi là Romdum Ray (Chuồng Voi). Nơi này vốn xưa kia chỉ có rừng rậm là nơi cư ngụ của các loài thú dữ như: voi, cọp, hổ, rắn…. Trải qua bao thăng trầm và biến đổi của lịch sử, tên gọi và địa giới của 2 Tên gọi do giới quân sự Mỹ đặt.
Theo sách “Lịch sử Miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ kháng chiến (1954-1975)”, thì: “Trên bản đồ vùng đất mà địch gọi là “Tam giác sắt” là một vùng hình tam giác với các đỉnh là thị tứ Bến Súc (thuộc xã Thanh Tuyền), thị trấn Bến Cát và ngã ba sông Thị Tính gặp sông Sài Gòn, cách Sài Gòn 20-30 km về hướng Tây Bắc” (Xem: Hồ Sơn Đài - chủ biên, 2011, tr. 15 Trảng Bàng nhiều lần thay đổi. Năm 1808, dƣới thời vua Gia Long, tại vùng đất Tây Ninh, Trảng Bàng thuộc đạo Quang Hóa. Theo đó về mặt hành chính, một phần đất của huyện nằm trong tổng Bình Cách (sau tách đổi thành Bình Cách Trung), huyện Thuận An, phủ Tân An và một phần thuộc tổng Dƣơng Hòa Trung, huyện Bình Dƣơng, phủ Tân Bình, cả hai phủ đều thuộc trấn Phiên An.
Sau năm 1833, triều đình Huế thành lập “Nam Kì lục tỉnh”, trấn Phiên An đổi thành tỉnh Gia Định (Vƣơng Công Đức, 2016). Năm Minh Mạng thứ 17 (Bính Thân, 1836), chuẩn tấu lời tâu của đình thần Trƣơng Minh Giảng và Trƣơng Đăng Quế, vua Minh Mạng cho “đổi tên tỉnh Phiên An thành tỉnh Gia Định. Đổi An - Biên tổng đốc làm Định - Biên Tổng Đốc…đặt thêm phủ Tây Ninh, lãnh 2 huyện Tân Ninh và Quang Hóa” (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007). Năm 1867, Pháp xâm chiếm Nam Kì và chia Nam Kì lục tỉnh thành 24 khu (hạt) thanh tra sau đổi thành khu tham biện.
Tây Ninh có khu tham biện Tây Ninh và khu tham biện Quang Hóa. Đến năm 1872, Pháp bỏ 24 khu tham biện, thành lập 18 khu hành chính và sau bỏ luôn khu hành chính, thành lập hạt Tây Ninh trên địa phận tỉnh Tây Ninh ngày nay. Hạt Tây Ninh bao gồm 2 quận: Thái Bình (huyện Tân Ninh cũ) và Trảng Bàng (Quang Hóa cũ). Năm 1897, làng Đôn Thuận thuộc tổng Hàm Ninh Thƣợng, quận Thái Bình (Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh, 2006), đến năm 1942, quận Thái Bình đổi tên là quận Châu Thành.
Đến năm 1957, xã Đôn Thuận thuộc tổng Hàm Ninh Hạ, quận Trảng Bàng. Về phía chính quyền cách mạng, trƣớc tình hình địch ráo riết thực hiện chính sách bao vây ta về mọi mặt, năm 1951 Trung ƣơng Cục miền Nam quyết định bố trí lại chiến trƣờng, bố trí lại lực lƣợng, toàn Nam bộ lấy sông Tiền làm ranh giới chia thành hai phân liên khu: Phân liên khu miền Đông và Phân liên khu miền Tây. Thực hiện chủ trƣơng của cấp trên, tỉnh Tây Ninh với 2 huyện Đức Hoà Thành, Trung Huyện của tỉnh Chợ Lớn và 2 huyện Gò Vấp, Hóc Môn của tỉnh Gia Định sáp nhập lại thành tỉnh Gia Định Ninh. Đồng thời một số xã trong tỉnh Tây Ninh cũng sáp nhập lại thành liên xã, trong đó hai xã Đôn Thuận và Thuận Lợi sáp nhập thành xã Đôn Thuận Lợi.
Đến năm 1954, xã Đôn Thuận Lợi đƣợc 16 tách ra, xã Đôn Thuận thuộc huyện Trảng Bàng. Tháng 10/1967, huyện Trảng Bàng đƣợc sát nhập vào Phân khu I để thuận tiện cho chỉ đạo cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mâu Thân năm 1968 (Ban chấp hành huyện Đảng bộ Trảng Bàng, 1997).