Chương 1. Những yếu tố tác động đến công tác tuyên truyền của báo Nhân Dân thời kỳ 1961-1965 Chương 2. Báo Nhân Dân với công tác tuyên truyền chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Nam (1961 – 1965) Chương 3. Một vài nhận xét và kinh nghiệm 7 z NỘI DUNG Chƣơng 1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CỦA BÁO NHÂN DÂN THỜI KỲ 1961 - 1965 1.
Tình hình quốc tế, trong nước và âm mưu, thủ đoạn của Mỹ ở miền Nam 1. Tình hình quốc tế, trong nước Đầu những năm 60, nền kinh tế thế giới có nhiều chuyển biến, sự hình thành hai cực đối lập được biểu hiện rõ ràng. Nền kinh tế của Mỹ đang trong thời kỳ phục hồi sau những khủng hoảng cục bộ. Mỹ đã bước đầu kiềm chế được các đồng minh phương Tây, lôi kéo họ và nhiều nước ở các khu vực khác nhau lập ra các liên minh quân sự để đàn áp cách mạng và ngăn chặn “xu hướng cộng sản” ở Đông Nam Á và các khu vực kế cận.
Mỹ cùng Anh và Pháp lập ra khối quân sự SEATO và ANZUS để hỗ trợ cho các biện pháp quân sự của mình. Nền kinh tế của Liên Xô và các nước Đông Âu có nhiều bước tiến, phát triển ổn định. Tuy nhiên, các nước trong khối xã hội chủ nghĩa nảy sinh các bất đồng, mâu thuẫn về đường lối đặc biệt là mâu thuẫn Xô – Trung dù cả hai đều đang có xu hướng hòa hoãn với phương Tây. Liên Xô dưới thời Tổng bí thư Khơrutxốp đang thực hiện chính sách tam hòa là: quá độ hòa bình, thi đua hòa bình và cùng tồn tại hòa bình.
Trung Quốc đang tiến hành hội đàm Trung – Mỹ hướng tới việc giảm căng thẳng trong mối quan hệ với Mỹ và phương Tây. Điều mà các nhà chiến lược Mỹ quan tâm là thời điểm đó giữa Liên Xô và Trung Quốc với Việt Nam chưa có sự thống nhất về đường lối chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Mỹ thấy rằng Việt Nam chỉ nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ các nước xã hội chủ nghĩa trong phạm vi xây dựng lại đất nước về kinh tế, quốc phòng. Vì vậy, Mỹ cho rằng các nước xã hội chủ nghĩa, Liên Xô, Trung Quốc và Bắc Việt Nam khó có những phản ứng kịp thời, tích cực, nhanh chóng và hiệu quả chống lại chiến lược chiến tranh mới của mình ở miền Nam Việt Nam.
8 z Hơn nữa, tình hình chính trị nước Mỹ tương đối ổn định nên Mỹ cho rằng nhân dân trong nước sẽ không có phản ứng tiêu cực chống lại chiến lược chiến tranh mới. Năm 1960, sự thắng lợi của phong trào Đồng Khởi đã chuyển cách mạng miền Nam Việt Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, giáng một đòn nặng nề vào chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ. Đây là mốc rất quan trọng của cách mạng ở Nam Bộ, tạo dựng cơ sở vững chắc để nhân dân ta đánh thắng chiến lược quân sự mới của Mỹ. Trên đà thắng lợi đó và thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng về việc thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất chống Mỹ - Diệm, ngày 20-12-1960 tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam, bao gồm đại biểu các giai cấp, các dân tộc, các tôn giáo và đảng phái đã họp và tuyên bố thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.
Sự ra đời của Mặt trận đánh dấu sự trưởng thành, lớn mạnh của phong trào cách mạng miền Nam và đáp ứng kịp thời yêu cầu của cách mạng, mong đợi của nhân dân. “Những chuyển biến to lớn của phong trào cách mạng ở Nam Bộ nói riêng và miền Nam nói chung trong năm 1960 đánh dấu thời kỳ tạm ổn định của chế độ Mỹ - Diệm đã qua và thời kỳ khủng hoảng liên tiếp, suy sụp nghiêm trọng bắt đầu” [37, tr. Những thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã góp phần cổ vũ các dân tộc thuộc địa, nửa thuộc địa vùng lên đấu tranh để tự giải phóng. Việt Nam trở thành ngọn cờ đầu của phong trào giải phóng dân tộc, tiêu biểu cho sự kết hợp các trào lưu cách mạng của thời đại.
Bởi vậy, đầu những năm 60, thế giới cũng được chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc châu Á, Phi, Mỹ - Latinh với nòng cốt là phong trào công nhân, tiến bộ và dân chủ. Châu Phi vốn được biết đến với tên gọi là lục địa đen nay có hàng loạt các nước vùng lên lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ nên được gọi là châu 9 z Phi rực lửa. Từ đó, nhân dân toàn thế giới thường nhớ đến năm 1960 với tên gọi “Năm châu Phi”. Trong khi đó, chiến tranh lạnh vẫn tiếp diễn với các cuộc xung đột xảy ra lẻ tẻ ở các khu vực trên thế giới.
Cuộc chạy đua vũ trang diễn ra gay gắt, Liên Xô vượt Mỹ về chế tạo vũ khí hạt nhân, tên lửa đạn đạo, tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân. Ở Lào, ngày 9-8-1960, Đại úy Coongle chỉ huy quân nhảy dù làm đảo chính lật đổ chính quyền Phuminôxavẳn thân Mỹ. Vì vậy, theo yêu cầu của bạn Lào, tháng 9-1960 Việt Nam đưa quân sang giúp đỡ lực lượng Pathet Lào giải phóng một số tỉnh như: Sầm Nưa, Cánh đồng chum, Xiêng Khoảng, Nặm Bạc…Sau đó, chính quyền liên hiệp Lào nhận được sự ủng hộ của Liên Xô và Trung Quốc khiến Mỹ rất lo lắng về sự lan rộng của chủ nghĩa Cộng sản ở khu vực Đông Nam Á. Phong trào giải phóng dân tộc dâng lên mạnh mẽ ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh và sự lớn mạnh của Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đặt Mỹ trước một tình thế khó khăn.
Các nhà chiến lược Mỹ nhận định rằng chỉ có đè bẹp được cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, Mỹ mới có thể đẩy lùi được phong trào đấu tranh của các dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân. Vì vậy, Việt Nam trở thành trọng điểm trong chính sách ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản của Mỹ. Trong sáu năm từ 1954 – 1960, đế quốc Mỹ đã dựng lên ở miền Nam Việt Nam chính quyền Ngô Đình Diệm và viện trợ cho chính quyền ấy khoảng 2 tỷ USD, trung bình mỗi năm 300 triệu USD nhằm nuôi sống bộ máy quân đội và chính quyền Sài Gòn để đàn áp cuộc đấu tranh hòa bình yêu nước của nhân dân ta ở miền Nam [6, tr. Tuy nhiên, chiến lược quân sự toàn cầu “Trả đũa ồ ạt” tượng trưng cho sức mạnh của đế quốc Mỹ cùng với những chính sách và biện pháp để thực hiện chiến lược đó đã không ngăn chặn được sự lớn mạnh của các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô, Trung Quốc và phong trào giải phóng dân tộc trên thế 10 z giới.
Giữa tình thế khó khăn đó, J. Kennơđi được bầu làm Tổng thống nước Mỹ thay cho D.Aixenhao đã đề ra nhiều biện pháp mới nhằm giải quyết tình hình chiến tranh ở Việt Nam. Đế quốc Mỹ phải lựa chọn một trong hai con đường hoặc là từ bỏ việc ủng hộ chính quyền Diệm, thực thi Hiệp nghị Giơnevơ hoặc tiếp tục can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam bằng chiến tranh để củng cố chế độ tay sai, áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Âm mưu và thủ đoạn của đế quốc Mỹ Sau khi xem xét và đánh giá lại toàn bộ tình hình thế giới và trong nước, tổng thống Mỹ J.
Kennơđi quyết định loại bỏ chiến lược “Trả đũa ồ ạt” vì không còn đủ sức ngăn chặn sức mạnh của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thay bằng chiến lược “Phản ứng linh hoạt”. Theo đó, Mỹ quyết định giữ vững cam kết với Ngô Đình Diệm, biến miền Nam Việt Nam thành tuyến đầu của đế quốc Mỹ chống Liên Xô, Trung Quốc “bành trướng” xuống Đông Nam Á. Tổng thống Kennơđi cho thành lập một lực lượng đặc nhiệm do ông Roswell Gilpatric, Thứ trưởng Bộ quốc phòng Mỹ lãnh đạo nhằm nghiên cứu và thăm dò các hướng hành động để đối phó với tình hình mới ở Việt Nam và trên thế giới. Tổng thống Mỹ J.
Kennơđi quyết định chỉ cho phép đưa vào Việt Nam khoảng 100 - 400 quân thuộc lực lượng đặc biệt làm cố vấn để huấn luyện quân đội Sài Gòn, đồng thời chấp nhận phương hướng chiến lược toàn cầu mới là “Phản ứng linh hoạt”. Đế quốc Mỹ sẽ vẫn duy trì lực lượng hạt nhân chiến lược đồng thời để tiến hành các cuộc chiến tranh hạn chế. Chiến tranh hạn chế của Mỹ gồm hai hình thức là: Chiến tranh đặc biệt và Chiến tranh cục bộ. Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” được tiến hành bằng quân đội tay sai dưới sự chỉ huy của hệ thống cố vấn Mỹ, dựa vào vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh của Mỹ nhằm chống lại phong trào cách mạng ở miền Nam Việt Nam.
Mỹ coi “Chiến tranh đặc biệt” là cuộc thí nghiệm đầu tiên 11 z của cuộc Chiến tranh hạn chế. Âm mưu chính của đế quốc Mỹ là “dùng người Việt đánh người Việt”. Để thực hiện âm mưu đó, Mỹ - Diệm đề ra nhiều biện pháp thực hiện khác nhau như tăng cường cố vấn Mỹ, phương tiện chiến tranh hiện đại để thực hiện các chiến thuật “trực thăng vận” và “thiết xa vận”, chiến lược dồn dân lập “ấp chiến lược” được coi là xương sống của toàn bộ chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. “Cả hai hình thức Chiến tranh hạn chế là một bộ phận quan trọng hợp thành chiến lược quân sự toàn cầu phản ứng linh hoạt, được các nhà quân sự Lầu Năm Góc đánh giá là “lưỡi kiếm” tiến công sắc bén vào những nơi nguy hiểm nhất đối với thế giới tự do” [6, tr.
Theo đánh giá của nhiều nhà quân sự Mỹ thì chiến tranh hạn chế có thể tránh được đụng độ với các nước lớn trong phe xã hội chủ nghĩa và có thể giành được thắng lợi ở các nơi khác bằng cách chủ động tạo ra sự ưu thế trong từng cuộc chiến tranh cụ thể do đế quốc Mỹ lựa chọn như cuộc chiến tranh Việt Nam. Ngày 29-4-1961, Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ nhóm họp đề ra chính sách, biện pháp và các bước tiến hành “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam. Ngày 11-5-1961, Tổng thống Mỹ Kennơđi chính thức phê chuẩn các quyết định của Hội đồng an ninh quốc gia mang tên Bị vong lục về hành động an ninh quốc gia số 52.