Chương 1: Một số khái niệm và những nhân tố tác động đến vai trò của quân và dân Đông Nam Bộ trong chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam. Chương 2: Quân và dân các tỉnh miền Đông Nam Bộ trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam. Chương 3: Một số nhận xét về vai trò của quân và dân Đông Nam Bộ trong chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VAI TRÒ CỦA QUÂN VÀ DÂN MIỀN ĐÔNG NAM BỘ TRONG CHIẾN TRANH BẢO VỆ BIÊN GIỚI TÂY NAM 1.
Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu Vai trò: Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng là “tác dụng, chức năng trong sự hoạt động, sự phát triển của cái gì đó” (Nxb. Quân và dân: Là lực lượng gồm cả lực lượng vũ trang (bộ đội thường trực Quân khu 7, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ); thanh niên xung phong và các tầng lớp nhân dân. Miền Đông Nam Bộ: Là vùng đất nằm trên nửa phía đông của Nam Bộ, ngày nay thuộc địa bàn các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long An và Thành phố Hồ Chí Minh. Trong thời kỳ diễn ra cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, miền Đông Nam Bộ gồm các tỉnh Đồng Nai (gồm cả Bà Rịa và Đặc khu Vũng Tàu - Côn đảo), Sông Bé (gồm cả Bình Dương, Bình Phước), Tây Ninh, Long An và Thành phố Hồ Chí Minh.
Về biên giới, trên đất liền, miền Đông Nam Bộ có đường biên giới chung với Vương quốc Campuchia dài gần 616km; đối diện với các tỉnh Long An, Tây Ninh, Bình Phước của miền Đông Nam Bộ - Việt Nam là các tỉnh Prey Veng, Svay Rieng, Kampong Cham (nay là Tbong Khmom), Kratie và Modulkiri của Campuchia. Miền Đông Nam Bộ cùng với miền Tây Nam Bộ, Trung Bộ và Bắc Bộ cấu thành lãnh thổ quốc gia Việt Nam thống nhất. Chiến tranh bảo vệ: Là cuộc chiến tranh do một quốc gia, dân tộc tiến hành nhằm chống lại sự xâm lược của nước ngoài để bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và thành quả của quốc gia, dân tộc đó. Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc mang tính chất chính nghĩa, cách mạng, toàn dân và quốc tế.
Xuất phát từ các khái niệm trên, đề tài xác định vai trò của quân và dân miền Đông Nam Bộ trong chiến tranh biên giới Tây Nam (1975-1979) là vị trí, 8 tác dụng của lực lượng vũ trang (bao gồm cả bộ đội thường trực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ) và nhân dân địa phương các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia chuẩn bị và thực hành chiến đấu trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam của Tổ quốc, giai đoạn từ 1975 đến 1979. Vai trò ở đây bao gồm: chuẩn bị chiến đấu (đánh giá âm mưu hành động của địch, tổ chức lực lượng quân sự, chính trị, hậu cần - kỹ thuật, tổ chức chiến trường); thực hành chiến đấu (trực tiếp chiến đấu, phục vụ chiến đấu); xây dựng tuyến phòng thủ bảo vệ biên giới. Trên cơ sở vai trò của quân và dân miền Đông Nam Bộ trong chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam (1975-1979) để làm rõ và sâu sắc thêm về cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên hướng biên giới Tây Nam của quân và dân miền Đông Nam Bộ. Khẳng định: Đây không chỉ là chiến tranh của các binh đoàn chủ lực mà còn là cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, chiến tranh với sự tham gia trực tiếp chiến đấu của các lực lượng tuyến trước cùng với sự chi viện tích cực của các đơn vị, hậu phương phía sau.
Vài nét về miền Đông Nam Bộ 1. Địa lý tự nhiên và hành chính Miền Đông Nam Bộ là vùng đất phù sa cổ, nằm trên nửa phía Đông của Nam Bộ - vùng đất “gian lao mà anh dũng” trong lịch sử dân tộc. Theo sự phân chia hành chính, ngày nay miền Đông Nam Bộ được xác định bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và Long An. Có diện tích tự nhiên hơn 23.564,4km2, dân số trên 17.
Về vị trí địa lý tự nhiên, miền Đông Nam Bộ nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa cao nguyên miền Nam với đồng bằng Sông Cửu Long, lưng dựa vào dải Trường Sơn và vùng rừng núi Đông Dương, mặt hướng xuống đồng bằng và biển Đông. Với địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình chuyển dịch trong biên độ từ 20m đến 200m so với mực nước biển theo hướng Tây Nam lên đông bắc. Bề mặt địa hình Đông Nam Bộ được chia thành 4 vùng chính: vùng đất đỏ bazan ở 9 phía đông bắc (bắc tỉnh Bà Rịa, Long Khánh, Bình Long, Phước Long trước đây); vùng đất phù xa cũ thuộc khu vực trung du (các tỉnh Biên Hòa, Bình Dương, Tây Ninh trước đây); vùng đất phù sa mới gồm rẻo phía Nam (từ tỉnh lỵ các tỉnh Biên Hòa, Bình Dương về phía biển) và vùng đồng bằng trũng thấp Đồng Tháp Mười. Miền Đông Nam Bộ có các tỉnh giáp với Vương quốc Campuchia là Tây Ninh, Bình Phước, Long An.
Địa hình bằng phẳng, có đường giao thông thủy - bộ thuận tiện, cư dân hai nước vùng giáp biên giới có tập quán thường xuyên qua lại trao đổi, buôn bán làm ăn và có truyền thống đoàn kết chống quân xâm lược. Núi ở miền Đông Nam Bộ có rải rác và phân bố ở hầu khắp các tỉnh Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Biên Hòa. Cao nhất là núi Bà Đen tỉnh Tây Ninh (986m), núi Chứa Chan ở tỉnh Đồng Nai (818m), Bà Rá tỉnh Bình Phước (783m), Mây Tàu tỉnh Bà Rịa (716m), Thị Vải tỉnh Bà Rịa (446m),… Ngoài ra còn có núi Cậu, núi Lớn, núi Nhỏ, núi Nứa, núi Minh Đạm, Bửu Long, Châu Diên,… [27, tr16]. Rừng ở miền Đông Nam Bộ chiếm 1/3 diện tích đất tự nhiên (không kể vùng rừng tràm gió mạn đông bắc Đồng Tháp Mười, vùng đám lá tối trời ở Gò Công, hạ lưu sông Vàm Cỏ).
Bao phủ hầu hết vùng phía Bắc và đông bắc là những cánh rừng nguyên sinh với thảm thực vật và động vật có đầy đủ đặc trưng của vùng Á nhiệt đới. Mạn Đông Nam Thành phố Hồ Chí Minh kéo về phía biển là khu rừng ngập mặn với diệt tích 600km2 với hàng nghìn chủng loại thủy sản. Ngoài ra, miền Đông Nam Bộ còn có các trảng cây thấp như dầu, ngành ngạch, le, rừng Khộp và hàng ngàn héc-ta rừng cao su trải dài hầu khắp các tỉnh. Phần vùng biển ở miền Đông Nam Bộ nằm trong khu vực Biển Đông, trải dài ở các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến Thành phố Hồ Chí Minh là một bộ phận thuộc mảng châu Á, nơi tiếp giáp Thái Bình Dương với đảo Philippin và giáp với mảng Âu - Úc với đảo Java - Sumatra của Indonexia.
Biển ở Đông Nam Bộ có độ dài sát mép nước trên 130km, ngoài khơi xa là Côn Đảo. Ngoài ra, Đông Nam Bộ còn có nhiều cửa biển quan trọng như Soài Rạp, Đồng Tranh, Cần Giờ, Lòng Tàu, Cái Mép, Hồ Cốc, Lộc An,… Đa phần các con sông lớn chảy qua miền 10 Đông Nam Bộ đều bắt nguồn từ miền biên giới và cao nguyên phía bắc đổ xuôi về phía Nam, đông nam và ra biển Đông (sông Đồng Nai, sông La Ngà, sông Bé, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây). Ngoài các con sông lớn nói trên, Đông Nam Bộ còn nhiều sông, kênh rạch khác như sông Thị Vải, sông Dinh, sông Ray, sông Bến Cát, kênh Bến Nghé, rạch Thị Nghè,… Giao thông ở miền Đông Nam Bộ, bên cạnh hệ thống kênh rạch chằng chịt của miền Nam, mạng lưới đường bộ chiếm địa vị chủ yếu về lưu thông trên vùng đất này. Có Thành phố Hồ Chí Minh là nơi gặp gỡ của những con đường chiến lược huyết mạch của Đông Dương.
Từ đây tỏa đi khắp nơi có các tuyến đường sắt Sài Gòn - Hà Nội, Sài Gòn - Lộc Ninh, Sài Gòn - Mỹ Tho trước đây và các quốc lộ quan trọng như quốc lộ 1, 13, 14, 15, 16 (nay là quốc lộ 1, 20, 22, 27, 51). Ngoài ra còn có hàng chục liên tỉnh lộ, hàng trăm tỉnh lộ và hương lộ khác chạy dọc ngang, đan xen trong lòng miền Đông Nam Bộ. Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, miền Đông Nam Bộ có hai mùa mưa và khô rõ rệt, mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 11. Do mùa mưa với lượng mưa tập trung nhiều (trung bình trong năm từ 1.000mm) trong thời gian ngắn tạo nên sự xói mòn mạnh mẽ trên những địa hình đồi núi, những nơi có độ dốc cao, đặc biệt ở những nơi thiếu thảm thực vật che phủ đã làm thay đổi cấu trúc địa hình, làm biến đổi độ phì nhiêu của thổ nhưỡng và ảnh hưởng tới sự phát triển của giới sinh vật và cuộc sống của con người.
Thời gian từ tháng 12 năm trước đến cuối tháng 4 năm sau là mùa khô, với sự xâm nhập của khối khí tuyến hải dương và tín phong, độ ẩm thường xuyên của gió tín phong đông bắc (gió chướng) hoạt động với cường độ mạnh (từ cấp 5 đến cấp 6) có đặc tính khô hanh làm cho nơi đây có mùa khô nóng kéo dài gay gắt,… là khu vực ít chịu ảnh hưởng trực tiếp từ gió bão so với các tỉnh thành trên cả nước. Địa lý hành chính ở miền Đông Nam Bộ như thời kỳ trước năm 1945, gồm các tỉnh, thành phố như: Thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn và các tỉnh Bà Rịa, Biên Hòa, Chợ Lớn, Gia Định, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Tân An, Vũng Tàu. Tháng 5-1951, thực hiện sáp nhập các tỉnh gần nhau có cùng một đặc điểm về địa lý theo chủ trương của Trung ương Cục miền Nam; cùng với việc thực hiện 11 Nghị định số 252/NĐ-51 của Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ về việc sát nhập 20 tỉnh của Nam Bộ thành 11 tỉnh. Gồm: Gia Định Ninh (các tỉnh cũ Gia Định, Tây Ninh và các huyện Đức Hòa, Trung Huyện, khu Đông Thành thuộc tỉnh Chợ Lớn); Thủ Biên (gồm các tỉnh cũ Thủ Dầu Một, Biên Hòa và huyện Thủ Đức thuộc tỉnh Gia Định); Bà Chợ (gồm các tỉnh cũ Bà Rịa, Chợ Lớn và huyện Long Thành thuộc tỉnh Biên Hòa, huyện Nhà Bè thuộc tỉnh Gia Định); Mỹ Tho (gồm các tỉnh cũ Mỹ Tho, Tân An, Gò Công); Long Châu Sa (gồm tỉnh Sa Đéc cũ và phần Châu Đốc, Long Xuyên, mạn tả ngạn sông Hậu).