Tổng quan luận án
Công cuộc đổi mới đất nước được khởi xướng từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã tạo ra bước ngoặt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, việc đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước trở thành nhiệm vụ cấp bách. Các Hội nghị Trung ương khóa VI (đặc biệt là Hội nghị Trung ương hai) và tiếp đó là Hiến pháp năm 1992 đã đặt nền tảng pháp lý quan trọng cho việc tái cơ cấu bộ máy nhà nước. Nghị quyết Trung ương tám khóa VII và Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII tiếp tục khẳng định trọng tâm của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là cải cách một bước nền hành chính nhà nước.
Tuy nhiên, sau một thập kỷ đổi mới, hiệu lực quản lý và điều hành của bộ máy nhà nước nói chung, bộ máy hành pháp cấp trung ương nói riêng vẫn bộc lộ nhiều hạn chế so với yêu cầu thực tiễn. Bộ máy còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, hoạt động chồng chéo, năng lực và phẩm chất của đội ngũ công chức chưa đồng đều; các chế định pháp lý và phương thức điều hành thực tế chưa theo kịp đòi hỏi của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế. Do đó, luận án "Cải cách bộ máy hành pháp cấp trung ương trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta" của tác giả Lê Sĩ Được (chuyên ngành Lý luận Nhà nước và Pháp quyền, mã số 5.01.01, bảo vệ năm 1996 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Hoàng Văn Hảo) được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu lý luận và thực tiễn nêu trên.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc cải cách bộ máy hành pháp trong bối cảnh đổi mới tại Việt Nam; phân tích kinh nghiệm tổ chức bộ máy hành pháp của các nước trên thế giới và bài học lịch sử của Việt Nam từ năm 1945; từ đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp cải cách bộ máy hành pháp cấp trung ương.
Các nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu cụ thể được xác định theo 4 nhóm vấn đề:
- Làm rõ vị trí, vai trò của quyền hành pháp trong hệ thống quyền lực nhà nước, mối quan hệ giữa quyền hành pháp với quyền lập pháp và quyền tư pháp, cùng các phương thức tổ chức thực hiện quyền hành pháp trên thế giới.
- Xác định rõ vị trí, chức năng, cơ cấu thành phần và thẩm quyền của Chính phủ với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất và là chủ thể cơ bản thực hiện quyền hành pháp.
- Phân tích mô hình tổ chức bộ máy hành pháp của các nước trên thế giới, lịch sử tổ chức và hoạt động của bộ máy hành pháp Việt Nam qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và thực trạng theo Hiến pháp năm 1992.
- Đề xuất hệ thống quan điểm chỉ đạo và các giải pháp đồng bộ nhằm cải cách tổ chức, phương thức quản lý của bộ máy hành pháp cấp trung ương tại Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy luật, nguyên tắc tổ chức, cơ cấu tổ chức, thẩm quyền và phương thức hoạt động của bộ máy hành pháp cấp trung ương trong mối tương quan với hệ thống quyền lực nhà nước.
- Phạm vi nghiên cứu: Về mặt thiết chế, luận án tập trung chủ yếu vào thiết chế Chính phủ và Nguyên thủ quốc gia (Chủ tịch nước), cùng mối quan hệ giữa trung ương và địa phương. Về mặt thời gian, luận án khảo cứu tiến trình phát triển của bộ máy hành pháp Việt Nam từ năm 1945 qua các thời kỳ lập hiến đến giai đoạn đổi mới (trọng tâm là sau Hiến pháp năm 1992 đến năm 1996). Luận án có độ dài 192 trang, bao gồm phần mở đầu, 3 chương (8 tiết), kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo với 5 hình vẽ minh họa.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Vấn đề tổ chức bộ máy nhà nước và cải cách hành chính đã thu hút sự quan tâm của nhiều cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học pháp lý trong nước thông qua các chương trình, đề tài nghiên cứu cụ thể:
- Đề tài cấp Bộ của Học viện Hành chính quốc gia: "Nội dung và phương thức tổ chức hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước" (Mã số KX.08, nghiệm thu tháng 3/1994).
- Các công trình của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp:
- Đề tài cấp Bộ: "Những luận cứ khoa học và thực tiễn của việc xây dựng Hiến pháp Việt Nam giai đoạn hiện nay" (Mã số 90-98-004, nghiệm thu năm 1990).
- Đề tài cấp Nhà nước: "Những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy lập pháp, hành pháp, tư pháp nước ta với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN" (Mã số KX.07, nghiệm thu năm 1995).
- Đề tài cấp Bộ do Viện Khoa học tổ chức nhà nước (thuộc Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ) chủ trì: "Vận dụng hành chính so sánh vào cải cách hành chính ở nước ta hiện nay" (1995).
- Luận án Phó tiến sĩ Luật học của tác giả Phạm Hồng Thái: "Đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam" (bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh).
- Các bài viết chuyên khảo trên các ấn phẩm học thuật như Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Bộ Tư pháp), Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (Viện Nhà nước và Pháp luật thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: phần lớn các công trình đã công bố chỉ tiếp cận từng khía cạnh riêng lẻ của bộ máy hành pháp, hoặc thuần túy tập trung vào các giải pháp kỹ thuật hành chính cụ thể, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về bộ máy hành pháp cấp trung ương dưới góc độ lý luận nhà nước và pháp quyền trong bối cảnh tổng kết 10 năm đổi mới và triển khai Hiến pháp năm 1992. Luận án đặt vị trí nghiên cứu của mình vào việc kết hợp giữa lý luận phân công/phối hợp quyền lực với việc khảo cứu so sánh quốc tế và phân tích thực chứng các chế định hiến định để đưa ra phương hướng cải cách đồng bộ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với các lý thuyết pháp lý và quan điểm chính trị:
- Khung lý thuyết: Tư tưởng của C. Mác và V.I. Lênin về nhà nước kiểu mới, kinh nghiệm tổ chức quyền lực của Công xã Paris (cơ quan hành động vừa lập pháp vừa hành pháp); học thuyết phân chia quyền lực ("Tam quyền phân lập") của J. Locke và S. Montesquieu; lý thuyết về chủ quyền nhân dân và ý chí chung trong "Khế ước xã hội" của J.J. Rousseau; cùng các quan điểm, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
- Khái niệm công cụ: Quyền lực nhà nước, quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp, cơ cấu nhị nguyên của hành pháp, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, chế định nguyên thủ quốc gia, chế định nội các, bộ đa chức năng và bộ đơn chức năng.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: xem xét bộ máy hành pháp cấp trung ương trong tổng thể cơ cấu quyền lực nhà nước và mối quan hệ hữu cơ giữa các thiết chế trung ương với địa phương.
- Phương pháp so sánh luật học và hành chính so sánh: đối chiếu các mô hình tổ chức quyền lực nhà nước tư sản (chính thể tổng thống, chính thể đại nghị, chính thể hỗn hợp) và các mô hình hành chính nhà nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên).
- Phương pháp phân tích - tổng hợp văn bản quy phạm pháp luật: nghiên cứu các văn bản lập hiến (Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992), Luật Tổ chức Chính phủ năm 1992, Nghị định số 15-CP ngày 02/03/1993 và các văn kiện chính trị của Đảng.
- Nguồn tư liệu: Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII; các nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng; văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và Chính phủ Việt Nam; tài liệu luật hiến pháp và hành chính của các quốc gia trên thế giới.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Bộ máy hành pháp cấp trung ương trong cơ cấu bộ máy nhà nước
Chương 1 thiết lập khung lý luận về quyền hành pháp và các mô hình tổ chức bộ máy hành pháp cấp trung ương trên thế giới và trong nhà nước xã hội chủ nghĩa:
- Quan niệm về quyền hành pháp trong hệ thống quyền lực nhà nước:
- Luận án phân biệt giữa quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước; quyền lực nhà nước là quyền lực chính trị được thực hiện thông qua bộ máy nhà nước nhằm thể hiện ý chí của giai cấp thống trị hoặc của nhân dân.
- Luận án định nghĩa ba quyền cơ bản: quyền lập pháp (đặt ra các quy tắc pháp lý cơ bản), quyền hành pháp (thực hiện và chấp hành pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống xã hội), và quyền tư pháp (xét xử vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp).
- Phân tích các mô hình phân chia quyền lực trong lịch sử:
- Hệ thống hỗn hợp quyền lực: Quyền lực tối cao tập trung vào tay một cá nhân (quân chủ chuyên chế), dẫn đến độc đoán và mất dân chủ.
- Hệ thống phân lập quyền lực tuyệt đối: Áp dụng tại Mỹ, dựa trên thuyết "Tam quyền phân lập" với nguyên lý kiểm soát và đối trọng. Tổng thống nắm toàn bộ quyền hành pháp và độc lập với Nghị viện; Nghị viện nắm quyền lập pháp và ngân sách; Tòa án tối cao nắm quyền tư pháp độc lập. Mô hình này tạo nền hành chính mạnh nhưng dễ dẫn tới nguy cơ tê liệt khi xảy ra xung đột giữa các nhánh quyền lực.
- Hệ thống cân bằng quyền lực (Đại nghị): Phổ biến tại Anh, Đức, Nhật Bản, Thụy Điển; Chính phủ do Thủ tướng đứng đầu, chịu trách nhiệm trước Nghị viện; sự phân lập chỉ mang tính tương đối và có sự hợp tác, kiềm chế lẫn nhau giữa lập pháp và hành pháp.
- Hệ thống hỗn hợp (Cộng hòa lưỡng tính): Tiêu biểu là Cộng hòa Pháp (Hiến pháp năm 1958), kết hợp giữa chế độ tổng thống và chế độ đại nghị, quyền hành pháp phân chia giữa Tổng thống và Thủ tướng theo cơ cấu nhị nguyên.
Bảng tổng hợp so sánh các mô hình quyền lực trên thế giới được luận án hệ thống hóa như sau:
| Tiêu chí |
Phân lập quyền lực tuyệt đối |
Cân bằng quyền lực (Đại nghị) |
Thống nhất quyền lực xã hội chủ nghĩa |
Nghiêng về hành pháp / Lập pháp |
| Cơ sở tư tưởng |
Thuyết tam quyền phân lập tuyệt đối |
Thuyết tam quyền phân lập có sửa đổi, kinh nghiệm nghị viện Anh |
Nguyên lý Mác - Lênin, tập quyền dân chủ, Công xã Paris |
Biến thể của tam quyền phân lập theo bối cảnh chính trị |
| Thiết chế Nguyên thủ quốc gia |
Tổng thống vừa là Nguyên thủ vừa đứng đầu hành pháp, do dân bầu trực tiếp |
Nguyên thủ (Vua hoặc Tổng thống) không trực tiếp nắm quyền hành pháp, đóng vai trò trung gian |
Chủ tịch nước (hoặc Hội đồng Nhà nước / Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao) là người đứng đầu Nhà nước |
Quyền lực phụ thuộc vào tương quan đảng phái chiếm đa số ở Nghị viện hay Chính phủ |
| Người đứng đầu Chính phủ |
Không có chức danh Thủ tướng; Tổng thống chỉ đạo các Bộ trưởng |
Thủ tướng là nhân vật trung tâm, đứng đầu Nội các, là thủ lĩnh đảng đa số |
Thủ tướng (hoặc Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) đứng đầu cơ quan hành chính cao nhất |
Tổng thống hoặc Thủ tướng nắm thực quyền tùy cơ cấu hiến định |
| Mối quan hệ Lập pháp - Hành pháp |
Phân lập biệt lập; Nghị viện và Tổng thống không thể giải tán lẫn nhau |
Chính phủ chịu trách nhiệm trước Nghị viện; Nghị viện có thể bỏ phiếu bất tín nhiệm; Chính phủ có thể đề nghị giải tán Nghị viện |
Quyền lực tối cao thuộc về Quốc hội; Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, chịu sự giám sát tối cao |
Có sự lấn át lẫn nhau giữa cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp |
-
Quyền hành pháp trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa và tại Việt Nam:
- Quyền lực nhà nước là thống nhất, bắt nguồn từ nhân dân và tập trung vào cơ quan đại diện quyền lực cao nhất (Quốc hội). Không áp dụng cơ chế tam quyền phân lập đối trọng, nhưng tiếp thu hạt nhân hợp lý về sự phân công lao động quyền lực rành mạch và kiểm tra lẫn nhau.
- Quốc hội nắm quyền lập pháp và giám sát tối cao; Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, nắm quyền hành pháp; Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân nắm quyền tư pháp độc lập.
- So sánh các mô hình hành pháp xã hội chủ nghĩa:
- Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT): Thiết lập tại Liên Xô (từ năm 1936), Bungari, CHDC Đức cũ; hoạt động như một tập thể hành chính do cơ quan quyền lực tối cao lập ra.
- Quốc Vụ viện (Trung Quốc): Do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc lập ra; áp dụng chế độ Thủ tướng chịu trách nhiệm lãnh đạo toàn diện công tác của Quốc Vụ viện (theo Điều 86 Hiến pháp Trung Quốc).
- Chính Vụ viện (Triều Tiên): Hoạt động dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chủ tịch nước và Ủy ban nhân dân trung ương.
-
Cơ cấu thành phần của Chính phủ và vị trí của Bộ:
- Luận án phân tích các chức danh cấu thành: Nguyên thủ quốc gia, Thủ tướng, Bộ trưởng, Bộ trưởng không Bộ, Quốc vụ khanh.
- Vị trí của Bộ: Bộ là cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thực hiện quản lý ngành hoặc lĩnh vực trong phạm vi cả nước. Luận án phân loại thành Bộ đa chức năng (Bộ tổng hợp) và Bộ đơn chức năng (Bộ chuyên ngành).
- Yêu cầu tổ chức lại các Bộ trong nền kinh tế thị trường: xóa bỏ chế độ chủ quản doanh nghiệp nhà nước, chuyển chức năng tài phán hành chính sang cơ quan tư pháp/hành chính độc lập, chuẩn hóa và đào tạo lại đội ngũ công chức.
Chương 2: Quá trình tổ chức và hoạt động của bộ máy hành pháp cấp trung ương
Chương 2 phân tích lịch sử tổ chức bộ máy hành pháp Việt Nam qua các giai đoạn hiến định từ năm 1945 và đánh giá thực trạng theo Hiến pháp năm 1992:
-
Bộ máy hành pháp qua các thời kỳ phát triển (1945 đến trước 1992):
- Hiến pháp năm 1946: Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc (Điều 43), Chủ tịch nước vừa là người đứng đầu Nhà nước vừa là người đứng đầu Chính phủ, không phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện nhân dân trừ tội phản quốc. Mô hình thể hiện sự tập trung quyền lực hành pháp linh hoạt, phù hợp với bối cảnh kháng chiến kiến quốc.
- Hiến pháp năm 1959: Hội đồng Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội và là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất (Điều 71), do Thủ tướng đứng đầu (Điều 75). Thiết chế Chủ tịch nước tách khỏi Chính phủ nhưng có quyền tham dự và chủ tọa các phiên họp của Chính phủ khi cần thiết.
- Hiến pháp năm 1980: Thiết chế Hội đồng Bộ trưởng được xác định là cơ quan chấp hành và hành chính nhà nước cao nhất của Quốc hội (Điều 104). Việc xóa bỏ chức danh Chủ tịch nước và thay bằng Hội đồng Nhà nước tập thể, cùng cơ chế làm việc tập thể của Hội đồng Bộ trưởng đã làm mờ nhạt vai trò cá nhân người đứng đầu, dẫn đến tình trạng điều hành chậm chạp, hiệu quả quản lý thấp trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế.
-
Thực trạng tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp năm 1992:
- Dưới góc độ các chế định pháp lý: Hiến pháp năm 1992 đã tái lập thiết chế Chủ tịch nước và xác định Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 109). Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ, được trao quyền hạn trực tiếp trong việc lãnh đạo bộ máy, phê chuẩn các thành viên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
- Dưới góc độ quản lý, điều hành thực tế:
- Bộ máy trung ương còn cồng kềnh, phân chia quá nhiều Bộ chuyên ngành dẫn đến sự chia cắt theo ngành dọc và bảo thủ cục bộ.
- Tình trạng can thiệp sâu của các Bộ vào hoạt động sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp quốc doanh thông qua "cơ chế chủ quản", chưa thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước bằng pháp luật và quy hoạch vĩ mô.
- Chức năng xử lý khiếu kiện hành chính chưa được tách bạch, dẫn đến tình trạng các cơ quan hành chính "vừa đá bóng vừa thổi còi".
- Mối quan hệ chỉ đạo giữa bộ máy hành chính trung ương và chính quyền địa phương chưa được giải quyết thông suốt; phân cấp quản lý chưa hợp lý, tồn tại cả xu hướng tập trung quan liêu lẫn phân tán địa phương chủ nghĩa.
Chương 3: Phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy hành pháp cấp trung ương
Chương 3 xây dựng các luận cứ, quan điểm chỉ đạo và hệ thống kiến nghị cải cách bộ máy hành pháp cấp trung ương:
-
Sự cần thiết và các quan điểm cơ bản chỉ đạo đổi mới:
- Đổi mới bộ máy hành pháp xuất phát từ yêu cầu chuyển đổi sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
- Việc cải cách phải tuân thủ nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa ba quyền; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước; bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ kết hợp phân cấp quản lý hợp lý.
-
Hệ thống kiến nghị cụ thể của luận án:
- Hoàn thiện thiết chế Nguyên thủ quốc gia (Chủ tịch nước): Tăng cường thẩm quyền của Chủ tịch nước về mặt hành pháp, làm rõ vai trò biểu tượng của sự thống nhất quyền lực quốc gia, quyền ban bố tình trạng khẩn cấp và quyền hạn đối với lực lượng vũ trang.
- Tái cơ cấu tổ chức và phương thức điều hành của Chính phủ:
- Tăng cường vai trò, quyền hạn và trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng Chính phủ trong việc chỉ đạo, điều phối hoạt động của toàn bộ hệ thống hành chính.
- Sắp xếp, sáp nhập các Bộ chuyên ngành có chức năng gần nhau, giảm bớt số lượng cơ quan trực thuộc Chính phủ; từng bước hình thành các Bộ đa ngành, đa lĩnh vực nhằm hạn chế chia cắt quản lý.
- Xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt và có hiệu lực:
- Phân định rành mạch thẩm quyền giữa cấp trung ương và cấp địa phương; trung ương nắm quyền ban hành thể chế, chiến lược, quy hoạch vĩ mô và thanh tra, kiểm tra; địa phương chủ động trong điều hành thực thi theo thẩm quyền được phân cấp.
- Thiết lập cơ chế kiểm soát nội bộ và thanh tra công vụ nghiêm ngặt.
- Đổi mới căn bản phương thức quản lý của Chính phủ:
- Chuyển từ phương thức quản lý mệnh lệnh hành chính, can thiệp vi mô sang phương thức quản lý nhà nước bằng pháp luật, cơ chế, chính sách.
- Xóa bỏ hoàn toàn chế độ chủ quản của các Bộ đối với doanh nghiệp nhà nước; chuyển giao quyền giải quyết tranh chấp kinh tế và khiếu kiện hành chính cho hệ thống Tòa án (Tòa án kinh tế, Tòa án hành chính, Tòa án lao động).
- Xây dựng đội ngũ công chức nhà nước: Ban hành quy chế công chức rõ ràng, tiêu chuẩn hóa các ngạch bậc công chức, tổ chức thi tuyển công khai, đẩy mạnh đào tạo lại kỹ năng hành chính và đề cao kỷ luật công vụ.
Kết quả và những đóng góp mới
-
Về mặt lý luận:
- Luận án phân tích sâu sắc cơ sở lý luận về quyền lực nhà nước và quyền hành pháp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khẳng định tính tất yếu của việc áp dụng nguyên tắc thống nhất quyền lực có phân công, phân nhiệm rành mạch giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
- Luận giải rằng việc tiếp thu các giá trị hợp lý của thuyết phân quyền (như phân công lao động quyền lực, kiểm tra lẫn nhau và tính độc lập của tư pháp) không làm suy yếu mà củng cố nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
- Làm rõ vị trí pháp lý của Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất và là chủ thể cơ bản thực hiện quyền hành pháp, phân biệt rõ vai trò quản lý nhà nước vĩ mô với chức năng điều hành sản xuất kinh doanh trực tiếp.
-
Về mặt thực tiễn và giải pháp:
- Khảo cứu có hệ thống lịch sử tổ chức bộ máy hành pháp Việt Nam qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992, chỉ ra các ưu điểm và hạn chế của từng mô hình qua các thời kỳ lịch sử.
- Nhận diện các điểm bất cập trong các chế định hiến định của Hiến pháp năm 1992 và những vướng mắc thực tế trong chỉ đạo, điều hành của các Bộ và Chính phủ.
- Đưa ra hệ thống giải pháp cải cách bộ máy hành pháp cấp trung ương theo hướng tinh gọn số lượng Bộ (chuyển sang Bộ đa ngành), tăng quyền cho Thủ tướng, hoàn thiện thiết chế Chủ tịch nước, xóa bỏ cơ chế chủ quản doanh nghiệp nhà nước và thành lập Tòa án hành chính.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu được hoàn thành vào năm 1996, thời điểm Hiến pháp năm 1992 mới được áp dụng 4 năm và các thiết chế kinh tế thị trường tại Việt Nam đang trong giai đoạn đầu hình thành. Do đó, các phân tích thực chứng chủ yếu dựa trên các số liệu và văn bản quản lý trong giai đoạn chuyển đổi 1986–1996.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Luận án gợi mở việc tiếp tục theo dõi, đánh giá sự vận hành thực tế của Hiến pháp năm 1992 qua thực tiễn đời sống để tiếp tục sửa đổi, bổ sung các chế định hiến pháp; nghiên cứu sâu hơn về quy chế công vụ, cơ chế tài phán hành chính độc lập và mô hình phân cấp ngân sách giữa trung ương và địa phương.
Giá trị tham khảo
- Đối với nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ khoa học cho công tác cải cách nền hành chính nhà nước, sửa đổi Luật Tổ chức Chính phủ, xây dựng Luật Cán bộ, công chức và rà soát cơ cấu tổ chức của các Bộ, cơ quan ngang Bộ.
- Đối với nghiên cứu sinh và nhà khoa học pháp lý: Là tài liệu tham khảo có hệ thống về lý luận nhà nước và pháp quyền, luật hiến pháp, luật hành chính và hành chính học so sánh.
- Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo: Phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy các chuyên đề về Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, Luật Hiến pháp, Tổ chức bộ máy nhà nước tại các trường đại học luật, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Học viện Hành chính Quốc gia.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo luận án, quyền hành pháp trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc nào?
Quyền hành pháp được tổ chức theo nguyên tắc thống nhất quyền lực nhà nước (quyền lực tối cao thuộc về nhân dân, thể hiện tập trung ở Quốc hội), có sự phân công, phân nhiệm rành mạch và phối hợp chặt chẽ giữa ba cơ quan thực hiện ba quyền lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Chính phủ) và tư pháp (Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân) dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, không áp dụng nguyên tắc tam quyền phân lập đối kháng.
2. Chính phủ có vai trò và địa vị pháp lý như thế nào theo Hiến pháp năm 1992 được luận án phân tích?
Theo Điều 109 Hiến pháp năm 1992, Chính phủ có vị trí kép: vừa là cơ quan chấp hành của Quốc hội (tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết), vừa là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của quốc gia (thực hiện quản lý nhà nước thống nhất trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội từ trung ương đến cơ sở), là chủ thể cơ bản thực hiện quyền hành pháp.
3. Luận án phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa mô hình Chính phủ theo Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 như thế nào?
Hiến pháp năm 1980 quy định Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan chấp hành và hành chính nhà nước cao nhất của Quốc hội, hoạt động theo cơ chế tập thể làm mờ nhạt trách nhiệm cá nhân; trong khi Hiến pháp năm 1992 quy định Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của cả nước, đồng thời đề cao vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng Chính phủ trong lãnh đạo, điều hành hệ thống hành chính.
4. Luận án đưa ra những kiến nghị trọng tâm nào đối với việc tổ chức lại các Bộ ở cấp trung ương?
Luận án kiến nghị: (1) Sáp nhập các Bộ chuyên ngành để giảm đầu mối, hình thành các Bộ đa ngành, đa lĩnh vực; (2) Chuyển đổi chức năng của Bộ sang quản lý nhà nước vĩ mô bằng pháp luật và quy hoạch, từng bước xóa bỏ vai trò "chủ quản" đối với các doanh nghiệp nhà nước; (3) Tách chức năng tài phán hành chính ra khỏi các Bộ; (4) Chuẩn hóa tiêu chuẩn chức danh và nâng cao kỷ luật công vụ của đội ngũ công chức ở các Bộ.
Kết luận
Luận án "Cải cách bộ máy hành pháp cấp trung ương trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta" của tác giả Lê Sĩ Được là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về lý luận và thực tiễn tổ chức bộ máy hành pháp cấp trung ương tại Việt Nam. Tác giả đã làm sáng tỏ vị trí của quyền hành pháp trong hệ thống quyền lực nhà nước thống nhất, đối chiếu kinh nghiệm quốc tế và lịch sử lập hiến Việt Nam để chỉ ra những tồn tại trong cơ cấu bộ máy và phương thức điều hành sau 10 năm đổi mới. Các kiến nghị của luận án về tinh giản số lượng Bộ, nâng cao vai trò của Thủ tướng, xóa bỏ chế độ chủ quản doanh nghiệp và xây dựng nền hành chính thông suốt mang giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc cho công cuộc cải cách hành chính nhà nước.