MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Cây ăn quả chiếm một vị trí rất quan trọng trong đời sống của con người. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, nghề trồng cây ăn quả đã trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu đối với nền nông nghiệp, mang lại hiệu quả kinh tế rất cao. Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, khí hậu có nhiều nét độc đáo và đa dạng, tài nguyên đất phong phú… Điều kiện tự nhiên đó đã ưu đãi cho đất nước ta nhiều loại cây trái đặc trưng, đặc biệt là cây cam. Huyện Văn Chấn là một trong những địa phương có diện tích đồi rừng nhiều nhất tỉnh Yên Bái.
Vào đầu những năm 80, huyện văn chấn đã thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, loại bỏ dần diện tích cây trồng kém hiệu quả chuyển sang trồng cây ăn quả. Và cây cam là cây được người dân nơi đây lựa chọn để đưa vào canh tác. Cam Văn Chấn đa dạng về chủng loại, nhưng chủ yếu là cam sành, cam Vinh, cam V2, cam đường canh, cam chanh và cam sen. Do hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu nên cây cam phát triển tốt, cho quả sai.
Cam trồng nhiều, nhưng thị trường bao tiêu, chuỗi liên kết không mấy khả quan, thị trường tiêu thụ không ổn định, được mùa mất giá, sâu bệnh, mất mùa. Vậy nên việc chuyển đổi cây trồng cũng chỉ lưng chừng, dần rồi người dân cũng chỉ trồng đủ ăn, nhà nào mạnh thì trồng bán cho thương lái. Trước hết, trong sản xuất cam hiện nay ở Văn Chấn, chuỗi liên kết giá trị hàng hóa đối với sản phẩm cam còn thiếu và chỉ mang tính tức thời, bởi hiện nay, chuỗi cung ứng, bao tiêu sản phẩm cam ở đây đều do người dân và tiểu thương tự vận hành, do đó thị trường đầu ra vẫn là một vấn đề nan giải, khiến tâm lý người trồng cam luôn có cảm giác “không an toàn”, lúc được mùa thì mất giá, trong khi đó diện tích, sản lượng cam tại Văn Chấn ngày càng tăng lên, nếu không có chuỗi cung ứng, thị trường bền vững thì ắt sẽ dẫn đến hậu quả rất lớn, khiến người dân phải chặt bỏ cam để thay thế giống cây trồng khác. Xã Thượng Bằng La là một xã luôn đi đầu trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất cam trên địa bàn huyện Văn Chấn.
Tuy nhiên, xã Thượng Bằng La cũng là một xã gặp phải những khó khăn trong canh tác và tiêu thụ cam. Để khắc phục, lãnh đạo sở nông nghiệp và phát triển Nông thôn và UBND tỉnh Yên Bái đã xây dựng đề án ‘Chương trình mỗi xã một sản phẩm tỉnh Yên Bái, giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến năm 2030 (OCOP-Yên Bái)’. Trọng tâm của Chương trình mỗi xã một sản phẩm là phát triển sản phẩm nông nghiệp, phi nông nghiệp, dịch vụ có lợi thế ở mỗi địa phương theo chuỗi giá trị, do các thành phần kinh tế tư nhân (doanh nghiệp, hộ sản xuất) và kinh tế tập thể thực hiện. Với những thực tiễn nêu trên, việc nâng cao giá trị sản phẩm, tạo chuỗi liên kết trong phát triển sản xuất cam, nâng cao thu nhập cho người dân trồng cam cũng nằm trong mục tiêu xây dựng Đề án Chương trình quốc gia Mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2019-2020, định hướng đến năm 2030 của tỉnh Yên Bái là thực sự cần thiết.
Từ những khó khăn nêu trên mà những người dân trồng cam tại xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái gặp phải trong quá trình sản xuất và trong công tác tiêu thụ cam. Nên em quyết định thực hiện đề tài “ Đánh giá tiềm năng phát triển OCOP cho cam tại xã Thượng Bằng La huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái” 1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1.1 Mục tiêu chung Trên cơ sở phân tích thực trạng đánh giá tiềm năng phát triển OCOP cho cam tại xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng đáp ứng tiêu chí của chương trình.2 Mục tiêu cụ thể - Góp phần hệ thống hóa một số cơ sở lí luận thực tiễn về đánh giá sản phẩm OCOP. - Đánh giá tiềm năng phát triển OCOP cho sản phẩm cam tại xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao để nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chí của chương trình.3 Đối tượng nghiên cứu Tìm hiểu và nghiên cứu đánh giá tiềm năng phát triển OCOP cho cam tại xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Phạm vi nghiên cứu • Về nội dung: Đề tài này tập trung nghiên cứu một số nội dung chủ yếu sau: - Thực trạng canh tác và tiêu thụ cam tại xã Thượng Bằng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. - Đánh giá hiệu quả kinh tế và của cam Văn Chấn. - Đánh giá tiềm năng phát triển OCOP cho cam tại xã Thượng Bằng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
- Đề xuất giải pháp nâng cao khả năng đáp ứng tiêu chí của chương trình. • Phạm vi không gian: nghiên cứu được thực hành tại xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái • Phạm vi thời gian: +Thời gian nghiên cứu: từ 10/8/2020 đến 31/12/2020 + Số liệu thu thập trong 3 năm (2017-2019) 5. Kết quả nghiên cứu dự kiến • Bản minh chứng khóa học về đánh giá xếp hạng phát triển sản phẩm OCOP • Báo cáo phân tích hiệu quả kinh tế trong canh tác cam của người dân tại xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. • Bản đánh giá tiềm năng phát triển OCOP cho cam tại xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
• Bản đề xuất một số giải pháp nâng cao khả năng phát triển sản phẩm OCOP cho cam tại xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. PHẦN II TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lí luận và thực tiễn về tiềm năng phát triển OCOP 2.2 Khái niệm “ Tiềm năng” Tiềm năng là năng lực, khả năng tiềm tàng, những thế mạnh còn chưa được khai thác, chưa được biết đến của các hộ gia đình đó là biết sử dụng các nguồn lực đã được tích hợp một cách có mục đích để đạt được một trạng thái mục tiêu mong muốn. Như là sự liên kết chặt chẽ tổ chức lại với nhau, các khả năng sản sinh theo thời gian thông qua những tương tác giữa các nguồn lực vô hình và hữu hình.1 Khải niệm “ Mỗi xã một sản phẩm” Xã: Là một khái niệm mang tính ước lệ chỉ một cộng đồng dân cư cụ thể nào đó, không phân biệt theo địa giới hành chính, cũng như về qui mô. Có thể một xã, hoặc nhiều xã, liên xã, liên huyện sản xuất một hoặc nhiều sản phẩm.
“Một sản phẩm”: Là một khái niệm mang tính ước lệ dùng để chỉ sản phẩm đặc trưng của một cộng đồng dân cư nào đó tạo ra. Sản phẩm có thể là hàng hoá hoặc sản phẩm dịch vụ, nó mang những đặc điểm rất riêng biệt của nơi sản xuất ra nó, khiến cho mọi người có thể dễ dàng nhận ra nơi sản xuất giữa những sản phẩm cùng loại. Đồng thời, sản phẩm cũng phải mang đầy đủ các yếu tố cấu thành của nó bao gồm phần cốt lõi, bao bì, nhãn mác, tiêu chuẩn, chất lượng, chứng nhận, hướng dẫn sử dụng, chăm sóc khách hàng,. Khái niệm “Một sản phẩm” được sử dụng ở đây hết sức mềm dẻo và khả thi.
Một làng/xã/phường, một cộng đồng dân cư có thể phát triển một hoặc nhiều sản phẩm của mình, nhưng có khi hai hay nhiều “làng/xã/phường” có thể kết hợp với nhau theo kiểu sản xuất dây chuyền (có “làng” chỉ sản xuất bán thành phẩm, làm nguyên liệu cho “làng” khác hoàn chỉnh sản phẩm) để tạo ra một loại sản phẩm, hàng hoá nào đó. Khái niệm “sản phẩm” đối với Chương trình OCOP được hiểu trên phạm vi 06 nhóm ngành/hàng, tạo ra các sản phẩm cụ thể đã qua chế biến, bao gói và đảm bảo các tiêu chuẩn theo quy định, các nhóm ngành/hàng trong Chương trình OCOP, cụ thể: (1) Nhóm thực phẩm, tạo ra các sản phẩm trong chế biến đồ ăn (ví dụ: từ rau, thịt, trứng,.) (2) Nhóm đồ uống, tạo ra các sản phẩm đồ uống có cồn (ví dụ: rượu, bia,.) hoặc không cồn (ví dụ: nước khoáng, nước ép hoa quả,.) (3) Nhóm dược liệu, tạo ra các sản phẩm có nguồn gốc từ nguyên liệu dược (ví dụ: cao dược liệu, nước tắm, các loại trà thảo mộc,. Nhóm Lưu niệm - Nội thất - trang trí, tạo ra các dòng sản phẩm đồ trang sức, lưu niệm, đồ gia dụng, hoa văn trang trí,. (6) Nhóm Dịch vụ du lịch nông thôn, tạo ra các sản phẩm du lịch, khám phá (ví dụ: cảnh quan thiên nhiên, tâm linh, văn hóa truyền thống,.2 Vai trò Chương trình OCOP là chương trình phát triển kinh tế khu vực nông thôn gắn với xây dựng NTM bền vững, tập trung phát triển các sản phẩm đặc sản, ngành nghề nông thôn gắn với đơn vị làng, xã để phát huy nội lực, sức sáng tạo, hình thành các chuỗi giá trị sản phẩm hàng hóa gắn với cộng đồng.
Chương trình OCOP tham gia giải quyết hàng loạt vấn đề ở nông thôn, như góp phần thúc đẩy nhanh việc tái cơ cấu trong nông nghiệp, cũng như đẩy mạnh việc ứng dụng, chuyển giao công nghệ trong sản xuất, thông qua các chương trình khuyến nông. để tạo ra sản phẩm có năng suất cao, chất lượng tốt. Đồng thời OCOP thúc đẩy việc hình thành và tái cấu trúc các hợp tác xã (HTX), doanh nghiệp ở vùng nông thôn, từ đó làm cho người dân, thông qua góp vốn vào các HTX, doanh nghiệp, trở thành chủ nhân của quá trình phát triển; phát triển OCOP với mục tiêu là tạo việc làm ở nông thôn, “ly nông, bất ly hương”, hạn chế lao động nông thôn di cư ra thành thị, tăng thu nhập, giảm nghèo. OCOP coi trọng việc đào tạo nguồn nhân lực, huấn luyện thành thạo tay nghề cho người sản xuất và đào tạo về quản lý, điều hành (CEO), để lao động trẻ trong nông thôn có điều kiện khởi nghiệp, sáng tạo từ OCOP.
Vì vậy, việc triển khai chương trình này được xem là hướng đi phù hợp với bối cảnh hiện tại. Chương trình OCOP đã góp phần tạo việc làm, thúc đẩy phát triển kinh tế của hộ gia đình nông thôn, đặc biệt là phát huy vai trò của phụ nữ nông thôn, các nhóm người yếu thế như đồng bào dân tộc thiểu số. Phát triển sản phẩm OCOP không chỉ là giải pháp để tăng thu nhập, phát triển kinh tế gia đình mà còn là cơ hội, điều kiện để họ có thời gian chăm lo và thực hiện trách nhiệm đối với gia đình và cộng đồng địa phương.