CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu quản lý rừng trên thế giới Theo thống kê của Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc FAO (1999) những năm cuối của thế kỷ XX tỷ lệ mất rừng vẫn xảy ra liên tục, đặc biệt là tại các nước đang phát triển, các nước thuộc vùng nhiệt đới. Cả thế giới trong 5 năm mất 56 triệu ha rừng. Châu Phi và Châu Á mỗi năm mất 3,0 đến 3,6 triệu ha; tỷ lệ mất rừng hàng năm đạt kỷ lục 0,6 - 0,7% trong khi toàn thế giới là 0,3%.
Còn ở các nước ASEAN mất 14 triệu ha rừng và đạt tốc độ kỷ lục 1,4% hàng năm. Ở Việt Nam giai đoạn 1990 đến 1995 có tốc độ mất rừng xấp xỉ với ASEAN (0,67 triệu ha tương đương 1,4%/năm). Riêng Châu Âu tăng được 2,6 triệu ha (0,03%) [3]. Trước tỷ lệ mất rừng cao như vậy thì vấn đề đặt ra cho cộng đồng loài người là làm gì để quản lý bảo vệ rừng bền vững.
Cộng đồng quốc tế đã đề xuất các tiêu chuẩn về quản lý rừng bền vững, khu rừng nào đạt tiêu chuẩn thì chủ rừng đó được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững và lâm sản khai thác từ khu rừng đó được dán nhãn sinh thái và có quyền lưu thông trên mọi thị trường quốc tế. Trên thế giới, mỗi vùng, mỗi nơi có những kiểu rừng không giống nhau. Vì vậy, có nhiều tiến trình quản lý rừng bền vững phù hợp khác nhau, như các tiến trình: - ITTO, với 7 tiêu chí, phù hợp với vùng nhiệt đới, xích đạo; - Helsinki, với 6 tiêu chí, được nhiều nước Bắc Âu sử dụng; - Montreal, với 6 tiêu chí, phù hợp cho rừng ôn đới; - Vùng khô hạn Châu Phi, CIFOR… (từ 5 đến 7 tiêu chí); - FSC là tiến trình quản lý rừng bền vững có 10 nguyên tắc và nhiều tiêu chí phù hợp cho cả rừng ôn đới, rừng nhiệt đới, rừng tự nhiên, rừng trồng. FSC là một tổ chức phi chính phủ, độc lập, cấp chứng chỉ hay có đại diện ở các vùng để cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững cho các chủ rừng.
Ở Việt Nam tại Hội thảo lần thứ nhất tháng 02/1998 do Cục Phát triển Lâm nghiệp, FSC, đại sứ quán Hà Lan tại Việt Nam, WWF Đông Dương đồng tổ chức đã cử ra một tổ công tác quốc gia về quản lý rừng bền vững (viết tắt là NWG on SFM) gồm các nhà quản lý, các nhà khoa học, luật gia, cán bộ chính sách, các chủ rừng, đại diện các tổ chức phi chính phủ như hội khoa học kỹ thuật lâm nghiệp, hội nông dân, phụ nữ, hội tiêu chuẩn…[4]. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 Theo tổ công tác FSC Việt Nam về quản lý rừng bền vững đã đưa ra các khái niệm như sau: "Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phần ổn định nhằm đạt được một hay nhiều hơn những mục tiêu quản lý đã được đề ra một cách rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội". "Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất và khả năng tái sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng của rừng trong việc thực hiện các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của chúng hiện nay và trong tương lai, ở cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu, không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác" [4]. Theo chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc và một số tổ chức quốc tế khác thì muốn có xã hội bền vững, dựa trên cơ sở phát triển bền vững thì người dân và cộng đồng phải sử dụng đất, quản lý rừng bền vững, vì đó vừa là đối tượng tác động trực tiếp vừa là nguồn sống, môi trường sống của họ và của xã hội.
Nó được thể hiện rất rõ trong 9 nguyên tắc cơ bản của một xã hội bền vững được nêu ra như sau: Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng; Cải thiện chất lượng cuộc sống con người; Bảo vệ sự sống và tính đa dạng của trái đất; Quản lý nguồn tài nguyên không tái tạo được; Tôn trọng khả năng chịu đựng của Trái đất; Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân; Để cho cộng đồng tự quản lý lấy môi trường của mình; Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát triển và bảo vệ; Xây dựng một khối liên minh toàn cầu. Trước xu hướng quản lý rừng bền vững để đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai, đảm bảo cho một xã hội bền vững thì đòi hỏi phải có một phương thức quản lý rừng có hiệu quả nhất. Nhiều nước trên thế giới đã rất quan tâm nghiên cứu, xem xét và lựa chọn hình thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng và coi đây là một trong những phương thức quản lý rừng tốt nhất. Bởi lẽ, cộng đồng dân cư là những người sống gần rừng phụ thuộc nhiều vào rừng và có những ảnh hưởng lớn tác động trực tiếp đến rừng.
Cộng đồng được định nghĩa như là những người sống tại chỗ, trong một tổng thể nhóm người sinh sống tại cùng một nơi theo luật lệ chung (từ điển Wehter). Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, cộng đồng bao gồm toàn thể những người sống thành một xã hội có những đặc điểm giống nhau và có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Còn cộng đồng trong khái niệm quản lý rừng cộng đồng được giới hạn là tập hợp của các cá nhân trong một thôn (bản) gần rừng gắn bó chặt chẽ với rừng qua hoạt động sản xuất, sinh hoạt và đời sống văn hóa xã hội [12]. Hình thức quản lý rừng cộng đồng không phải mới có mà nó đã xuất hiện rất sớm dưới dạng quản lý tài nguyên rừng công cộng.
Trong những năm 1980, yêu cầu về kiến thức đối với việc quản lý tài nguyên rừng sở hữu công cộng (CPRM) và hành động tập thể đã tăng nhanh. Năm 1985, có một hội nghị quốc tế về CPRM họp tại Anapolis, Maryland dưới sự bảo trợ của Viện Hàn lâm quốc gia Hoa Kỳ. Kết quả nó đã hình thành một mạng lưới sở hữu tài nguyên công cộng nhằm nghiên cứu và phổ cập thông tin về quản lý tài nguyên dựa trên cơ sở cộng đồng. Năm 1989, hiệp hội quốc tế về nghiên cứu sở hữu công cộng (IASCP) được thành lập đáp ứng yêu cầu mở rộng mối quan tâm trên toàn cầu và phát triển thêm việc trao đổi kinh nghiệm, kiến thức.
Nhiều tổ chức, hiệp hội và mạng lưới quốc tế khắp nơi đã ủng hộ phong trào đó qua những quan tâm ngày càng sâu tới lâm nghiệp cộng đồng, lâm nghiệp xã hội và nông lâm kết hợp, phát triển nông thôn có sự tham gia của người dân quản lý cây và đất, nghiên cứu môi trường và chính sách, các hệ quản lý tài nguyên và kiến thức kỹ thuật bản địa. Ở Ấn Độ, trong những năm 1920 các nhà chức trách thuộc địa tại Ấn Độ đã thử đưa ra những hệ thống quản lý rừng địa phương mới. Tại bang Utta Pradesh, người ta đã thành lập các hội đồng rừng địa phương đặc biệt nhằm mục đích tạo nên một lớp đệm giữa rừng của Nhà nước và dân làng địa phương. Những hội đồng đó là một phương tiện để đối phó với những chống đối mãnh liệt của người dân địa phương chống lại việc xây dựng rừng cấm của Nhà nước trên diện tích lớn.
Đã có những suy nghĩ về việc quản lý rừng địa phương phải được thực hiện dựa trên những nguyên tắc được cộng đồng xây dựng và thỏa thuận. Đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX nhiều chính phủ của các bang ở Ấn Độ cùng với sự hỗ trợ trong và ngoài nước đã bắt đầu xúc tiến các kế hoạch xây dựng lâm nghiệp xã hội thông qua những kế hoạch quản lý tài nguyên rừng cộng đồng. Trong những năm gần đây những nghiên cứu và ứng dụng mô hình quản lý rừng cộng đồng ở Ấn Độ rất phát triển và tỏ ra rất có hiệu quả. Ở Nêpan, những năm 80 của thế kỷ XX nhiều sáng kiến về quản lý rừng đã được các cơ quan lâm nghiệp và các tổ chức phát triển địa phương tại Nam Á và Đông Nam Á thực hiện để thúc đẩy việc quản lý lâm nghiệp cộng đồng.
Đã có nhiều quan tâm nghiên cứu để phát triển quản lý lâm nghiệp xã hội như nghiên cứu của Acharya, Arnold và Campbell… ở đây đã thành lập các nhóm sử dụng rừng trên cơ sở cùng nhau quản lý các khu rừng không theo vị trí lãnh thổ. Theo Donovan, 1997, ở Philippin, Thái Lan, Trung Quốc đã cấp giấy phép sử dụng đất cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng theo các chương trình lâm nghiệp PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 xã hội. Philippin không giới hạn về diện tích đất để giao cho các cá nhân với giấy phép sử dụng đất trong thời gian 25 năm và sau đó có thể được gia hạn. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc quản lý rừng cộng đồng ở các nước.
Như vậy, quản lý rừng bền vững dựa vào cộng đồng là một phương thức quản lý rừng được cả cộng đồng quốc tế quan tâm phát triển và ngày càng hoàn thiện hơn về mặt pháp lý. Việt Nam cũng là một trong những nước áp dụng phương thức quản lý rừng cộng đồng này rất mạnh mẽ và có hiệu quả cao trong quản lý bảo vệ tài nguyên rừng [5], 1. Hiện trạng tài nguyên rừng Việt Nam Đất nước Việt Nam trải dài trên nhiều vĩ tuyến và đai cao, với địa hình rất đa dạng, hơn 2/3 lãnh thổ là đồi núi, lại có khí hậu thay đổi từ nhiệt đới ẩm phía Nam, đến á nhiệt đới ở vùng cao phía Bắc, đã tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên và sự phong phú về các loài sinh vật. Những hệ sinh thái đó bao gồm nhiều loại rừng như rừng cây lá rộng thường xanh, rừng nửa rụng lá, rừng rụng lá, rừng trên núi đá vôi, rừng hỗn giao lá rộng và lá kim, rừng lá kim, rừng tre nứa, rừng ngập mặn, rừng tràm, rừng ngập nước ngọt,.
Qua quá trình quản lý chưa bền vững, độ che phủ của rừng ở Việt Nam đã giảm sút đến mức báo động.