Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống tiêu Dậu Dương giữ vai trò huyết mạch trong việc tiêu thoát nước cho 8.612,96 ha đất tự nhiên thuộc 7 xã và 1 thị trấn của hai huyện Tam Nông và Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Trục tiêu chính có chiều dài tự nhiên 5,93 km, bắt đầu từ đầm Dị Nậu và đổ ra sông Hồng qua cống Dậu Dương. Tuy nhiên, qua nhiều thập kỷ vận hành không được duy tu đồng bộ, lòng ngòi bị bồi lắng nghiêm trọng, mặt cắt ngang co hẹp chỉ còn từ 3 đến 8 m và bị bèo tây che phủ dày đặc. Tình trạng người dân đắp cọc làm đăng bắt cá và lấn chiếm hai bên bờ để canh tác nông nghiệp đã làm suy giảm nghiêm trọng khả năng truyền tải thủy lực.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng ngập úng nghiêm trọng diễn ra thường niên trong lưu vực. Điển hình, tổng diện tích ngập úng toàn vùng đã lên tới 710 ha, trong đó diện tích lúa chiêm bị mất trắng là 556 ha, kèm theo 267,1 ha lúa mùa và 169,8 ha hoa màu bị ảnh hưởng nặng nề. Về mùa mưa lũ, khi mực nước sông Hồng dâng cao, hệ thống tiêu hoàn toàn mất khả năng tiêu tự chảy. Ngược lại, vào mùa kiệt, lòng ngòi không đủ năng lực dẫn nước tự chảy từ đầm Dị Nậu để phục vụ tưới tiêu cục bộ.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là nghiên cứu toàn diện cơ sở khoa học, đánh giá chính xác hiện trạng tiêu thoát nước của lưu vực 8.612,96 ha thông qua công cụ mô phỏng hiện đại, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình nhằm cải tạo, nâng cấp hệ thống tiêu Dậu Dương. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian địa lý thuộc huyện Tam Nông và Thanh Thủy, sử dụng chuỗi số liệu khí tượng thủy văn 35 năm từ 1970 đến 2004 và định hướng quy hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn đến năm 2020. Kết quả nghiên cứu tạo tiền đề kỹ thuật vững chắc để giảm thiểu 100% diện tích ngập úng mất trắng, bảo vệ an toàn sinh kế cho hơn 43.000 người dân trong vùng dự án.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai nền tảng lý thuyết cốt lõi trong ngành kỹ thuật tài nguyên nước: lý thuyết cân bằng nước mặt ruộng và lý thuyết dòng chảy không ổn định trong hệ thống kênh hở. Theo lý thuyết cân bằng nước mặt ruộng, lượng nước thừa cần tiêu được xác định thông qua phương trình cân bằng giữa lượng mưa rơi xuống, tổn thất ngấm, bốc hơi và độ sâu tiêu thoát cho phép theo khả năng chịu ngập sinh lý của cây trồng. Đồng thời, lý thuyết thủy lực mô hình hóa mạng lưới dòng chảy dựa trên hệ phương trình vi phân Saint-Venant một chiều, cho phép tính toán chính xác mực nước và lưu lượng biến đổi theo không gian và thời gian dọc theo 5,93 km tuyến ngòi tiêu.

Nghiên cứu vận dụng hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 04-05: 2012/BNNPTNT về công trình thủy lợi để xác định cấp công trình (Cấp III đối với lưu vực từ 2.000 đến 10.000 ha) và lựa chọn tần suất mưa thiết kế P = 10%. Các khái niệm khoa học chủ đạo bao gồm:

  • Hệ số tiêu quy hoạch: Lượng nước cần rút khỏi một đơn vị diện tích trong một đơn vị thời gian (tính bằng l/s.ha) nhằm bảo đảm cây trồng không bị ngập úng quá giới hạn cho phép.
  • Mô hình mưa tiêu thiết kế: Trận mưa tiêu chuẩn 5 ngày lớn nhất tương ứng với tần suất thiết kế P = 10%, phản ánh đầy đủ diễn biến đỉnh lũ và chân lũ.
  • Hệ số dòng chảy C: Tỷ số giữa lượng dòng chảy sinh ra và lượng mưa rơi xuống mặt lưu vực, phản ánh mức độ thấm và trữ nước của từng loại bề mặt che phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào của đề tài bao gồm chuỗi quan trắc lượng mưa ngày liên tục suốt 35 năm (1970–2004) tại trạm khí tượng Ba Vì (cách lưu vực 10 km) và trạm Phú Hộ, kết hợp chuỗi số liệu mực nước thực đo tại trạm thủy văn Phú Thọ trên sông Hồng. Về đặc tính địa kỹ thuật, 7 lớp địa tầng nền móng công trình đầu mối đã được khoan khảo sát và thí nghiệm cơ lý mẫu đất nguyên dạng.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích đối với chuỗi số liệu khí tượng thủy văn. Cỡ mẫu 35 năm bảo đảm độ tin cậy thống kê cao theo tiêu chuẩn ngành thủy văn (yêu cầu chuỗi quan trắc tối thiểu từ 15 đến 20 năm). Trạm Ba Vì được lựa chọn làm trạm đại biểu vì cự ly tiếp cận gần lưu vực và phản ánh trung thực quy luật mưa của vùng chuyển tiếp đồi núi trung du sang đồng bằng.

Về phương pháp phân tích, tác giả sử dụng phương pháp thống kê xác suất thông qua phần mềm chuyên dụng FFC2008 để thiết lập đường tần suất lý luận Pearson Type III bằng phương pháp thích hợp dần. Lý do lựa chọn phương pháp thích hợp dần là khả năng kiểm soát trực quan các điểm đột xuất trong quá trình khớp nối đường tần suất lý luận với tần suất kinh nghiệm, hạn chế sai lệch tham số mẫu. Trên cơ sở đó, lượng mưa thiết kế 5 ngày lớn nhất tần suất 10% được xác định là 455,32 mm. Trận mưa thực đo năm 1983 với tổng lượng mưa 424,1 mm được chọn làm mô hình mưa điển hình để thu phóng theo hệ số K = 1,074. Toàn bộ lưu vực 8.612,96 ha được chia tách thành 9 tiểu vùng độc lập để mô phỏng thủy lực trên mô hình EPA SWMM, giúp tính toán chính xác quá trình lan truyền sóng lũ và năng lực tiêu thoát của toàn hệ thống.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực địa và mô phỏng số trị đã chỉ ra 4 phát hiện kỹ thuật mang tính quyết định:

Thứ nhất, mặt cắt lòng dẫn tự nhiên của ngòi tiêu Dậu Dương bị thu hẹp từ 45% đến 60% so với yêu cầu thoát lũ. Chiều rộng đáy kênh đoạn hạ lưu từ trạm bơm Dị Nậu đến cống Dậu Dương (dài 2,98 km) chỉ còn từ 3 đến 8 m, cốt đáy bị nâng cao lên mức từ +7,80 m đến +11,42 m do bùn cát bồi lắng và rác thải thực vật tích tụ qua nhiều năm.

Thứ hai, tải lượng mưa thiết kế gây áp lực vượt ngưỡng chịu tải của mặt ruộng. Dưới tác động của trận mưa 5 ngày tần suất 10% với tổng lượng mưa 455,32 mm (trong đó ngày thứ tư tập trung lượng mưa cực đại lên đến 238,34 mm), hệ số tiêu cho đất trồng lúa vọt lên mức đỉnh 16,68 l/s.ha. Sự gia tăng đột biến này khiến 710 ha đất sản xuất bị ngập sâu, trong đó 556 ha lúa chiêm bị mất trắng, tương đương 78,3% tổng diện tích bị ngập.

Thứ ba, cơ chế tiêu tự chảy qua cống Dậu Dương bị vô hiệu hóa hoàn toàn khi xuất hiện lũ ngoài sông. Mực nước sông Hồng ứng với tần suất 10% tại vị trí cống tiêu đạt mức +15,91 m, cao hơn cao trình đáy cống xuất phát từ 7,73 m đến 8,11 m. Độ chênh cột nước này tạo hiện tượng nước sông dâng ngược hoặc đóng kín cửa cống, ngăn chặn hoàn toàn khả năng tiêu tự chảy của cả lưu vực.

Thứ tư, áp lực dòng chảy mặt tăng mạnh do chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất. Tại tiểu vùng 3 (diện tích 2.232,20 ha) và tiểu vùng 7 (diện tích 1.548,15 ha), tỷ lệ đất ở và hạ tầng giao thông chiếm từ 19% đến 27%, tương ứng hệ số dòng chảy C dao động từ 0,65 đến 0,95, làm tăng lưu lượng đỉnh lũ dồn về trục chính thêm hơn 30% so với điều kiện tự nhiên thuần nông.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi gây ngập úng triền miên tại khu vực Dậu Dương là sự kết hợp bất lợi giữa yếu tố địa hình đồi dốc phía Tây (cao trình trên 200 m) dồn nước nhanh xuống vùng trũng ven đê và sự cản trở tiêu thoát ở cửa ra sông Hồng. Hiện tượng bồi lắng lòng dẫn cùng sự phát triển dày đặc của bèo tây và cọc đăng bắt cá đã làm tăng hệ số nhám lòng kênh, kéo giảm vận tốc dòng chảy xuống dưới mức cho phép. Khi so sánh với các nghiên cứu thủy lợi vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, phương thức tiêu hoàn toàn dựa vào tự chảy trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm gia tăng mực nước lũ sông lớn không còn bảo đảm tính an toàn kỹ thuật.

Để tối ưu hóa việc truyền tải dữ liệu kỹ thuật, các kết quả mô phỏng thủy văn được biểu diễn trực quan qua biểu đồ đường tần suất Pearson Type III và biểu đồ phân phối mưa thiết kế 5 ngày. Biểu đồ đường mặt nước dọc tuyến kênh 5,93 km và bảng ma trận hệ số tiêu thành phần của 9 tiểu vùng cung cấp góc nhìn định lượng rõ ràng, chứng minh rằng biện pháp nạo vét đơn thuần không thể giải quyết triệt để bài toán ngập úng nếu thiếu giải pháp động lực cưỡng bức tại công trình đầu mối.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để tình trạng ngập úng, bảo đảm tiêu thoát an toàn cho 8.612,96 ha lưu vực Dậu Dương, hệ thống giải pháp công trình và phi công trình cần được triển khai đồng bộ:

  • Nạo vét, mở rộng và chuẩn hóa hình học 5,93 km tuyến ngòi tiêu Dậu Dương: Tiến hành đào mở rộng bề rộng đáy kênh đạt từ 12 đến 15 m, hạ cốt đáy kênh đồng bộ xuống cao trình thiết kế từ +6,50 m đến +7,50 m, gia cố bờ kết hợp đường giao thông nội đồng. Mục tiêu nâng lưu lượng thoát nước tự chảy qua kênh tăng tối thiểu 45%. Thời gian thực hiện từ năm 2015 đến 2017 do Ủy ban nhân dân huyện Tam Nông làm chủ đầu tư.
  • Xây dựng mới trạm bơm tiêu đầu mối Dậu Dương với công suất thiết kế 25 đến 30 m³/s: Lắp đặt cụm máy bơm trục đứng cột nước thấp tại vị trí cống Dậu Dương để tiêu nước cưỡng bức ra sông Hồng khi mực nước ngoài sông vượt quá +15,50 m. Mục tiêu bảo đảm tiêu úng 100% diện tích canh tác trong thời gian không quá 3 ngày. Thời gian triển khai từ năm 2016 đến 2018 do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ chủ trì.
  • Cải tạo, nâng cấp khẩu độ các cầu giao thông nội đồng và thanh thải chướng ngại vật lòng dẫn: Nâng khẩu độ thoát nước cho Cầu Mai Lĩnh (hiện rộng 3,5 m) và Cầu Mười (hiện rộng 1,5 m) để bảo đảm khẩu độ thoát lũ tương thích với mặt cắt kênh mới; đồng thời trục vớt 100% bèo tây và dỡ bỏ toàn bộ cọc đăng bắt cá. Thời gian thực hiện định kỳ hàng năm từ năm 2015 do Công ty Khai thác công trình thủy lợi Tam Nông phối hợp các xã quản lý.
  • Quy hoạch không gian trữ lũ và quản lý dòng chảy mặt tại 9 tiểu lưu vực: Tăng cường bảo vệ và nạo vét 257,13 ha diện tích mặt nước ao hồ và đầm Dị Nậu nhằm duy trì dung tích trữ lũ điều hòa ban đầu, kiểm soát nghiêm ngặt cốt xây dựng tại 1.512,50 ha đất thổ cư để hạn chế gia tăng hệ số dòng chảy mặt. Thời gian thực hiện giai đoạn 2018–2020 do Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tam Nông và Thanh Thủy phụ trách.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Kỹ sư tư vấn thiết kế và quy hoạch công trình thủy lợi: Ứng dụng trực tiếp quy trình tính toán hệ số tiêu lúa mặt ruộng kết hợp phần mềm FFC2008 và mô hình SWMM vào các dự án cải tạo hệ thống tưới tiêu tương tự tại khu vực trung du Bắc Bộ.
  • Cơ quan quản lý nhà nước ngành nông nghiệp và tài nguyên nước: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ, Chi cục Thủy lợi sử dụng các số liệu tính toán thủy văn và quy hoạch phân vùng 9 tiểu lưu vực làm cơ sở pháp lý và kỹ thuật để phê duyệt dự án đầu tư nâng cấp hạ tầng thủy lợi Tam Nông - Thanh Thủy.
  • Lãnh đạo và cán bộ địa chính - nông nghiệp cấp huyện, xã: Ủy ban nhân dân huyện Tam Nông, Thanh Thủy cùng các xã dọc tuyến ngòi Dậu Dương ứng dụng số liệu ngập úng để chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng, bảo vệ hành lang an toàn công trình thủy lợi và bố trí kế hoạch nạo vét định kỳ.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Thủy văn và Kỹ thuật Tài nguyên nước: Khai thác phương pháp luận thu phóng mô hình mưa thiết kế 5 ngày lớn nhất và phương pháp mô phỏng cân bằng nước chi tiết làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

Điểm nghẽn cốt lõi khiến hệ thống tiêu Dậu Dương mất khả năng tiêu tự chảy vào mùa mưa lũ là gì? Nguyên nhân chính là lòng ngòi bị bồi lắng, thu hẹp còn 3 đến 8 m cùng với việc mực nước lũ sông Hồng dâng cao lên đến +15,91 m ứng với tần suất 10%. Mực nước này vượt xa cao trình đáy ngòi (+7,80 m), tạo cột nước chênh áp lớn khiến cửa cống tiêu tự chảy bị đóng kín hoàn toàn.

Vì sao luận văn lựa chọn mô hình mưa 5 ngày lớn nhất tần suất 10% để tính toán thiết kế? Theo quy chuẩn QCVN 04-05: 2012/BNNPTNT, lưu vực 8.612,96 ha thuộc công trình cấp III đòi hỏi tần suất thiết kế 10%. Dữ liệu 35 năm tại trạm Ba Vì cho thấy dạng mưa 5 ngày chiếm trên 80% tổng lượng mưa trận lớn, thể hiện đầy đủ đỉnh và chân lũ, phản ánh sát thực tế ngập úng cục bộ.

Mô hình SWMM đóng vai trò gì trong việc giải quyết bài toán tiêu nước tại lưu vực Dậu Dương? Mô hình SWMM cho phép mô phỏng động lực học dòng chảy 1 chiều trên toàn tuyến ngòi 5,93 km và 9 tiểu lưu vực. Phần mềm giúp kiểm tra chính xác khả năng tiêu thoát của từng phương án nạo vét lòng dẫn, đánh giá năng lực làm việc của trạm bơm đầu mối trước khi triển khai thi công thực tế.

Tại sao việc xây dựng trạm bơm tiêu cơ giới là bắt buộc thay vì chỉ nạo vét khơi thông lòng kênh? Nạo vét lòng kênh chỉ giúp tăng năng lực dẫn nước nội đồng nhưng không thể giải quyết bài toán tiêu thoát khi mực nước sông Hồng dâng cao hơn mực nước trong đồng. Xây dựng trạm bơm cơ giới công suất 25 đến 30 m³/s là giải pháp duy nhất giúp tiêu cưỡng bức, chủ động chống ngập úng triệt để.

Quá trình đô thị hóa ảnh hưởng như thế nào đến chế độ tiêu nước của hệ thống Dậu Dương? Đô thị hóa làm gia tăng diện tích mặt phủ không thấm (1.512,50 ha đất thổ cư, giao thông), đẩy hệ số dòng chảy C lên từ 0,65 đến 0,95. Điều này làm rút ngắn thời gian tập trung nước và gia tăng đột biến lưu lượng đỉnh lũ dồn về trục ngòi Dậu Dương so với bề mặt canh tác nông nghiệp.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích sâu sắc bức tranh hiện trạng thủy lực của hệ thống tiêu Dậu Dương, xác định rõ nguyên nhân gây ngập úng 710 ha đất sản xuất là do lòng ngòi 5,93 km bị co hẹp nghiêm trọng và mực nước sông Hồng dâng cao làm tê liệt tiêu tự chảy.
  • Đã ứng dụng thành công chuỗi dữ liệu thủy văn 35 năm trạm Ba Vì để tính toán lượng mưa thiết kế 5 ngày max tần suất 10% đạt 455,32 mm thông qua phần mềm FFC2008 theo phân phối Pearson Type III.
  • Đã lượng hóa chính xác hệ số tiêu mặt ruộng cho đất lúa (đạt đỉnh 16,68 l/s.ha) và các loại đất chuyên màu, thổ cư, ao hồ trên 9 tiểu lưu vực của toàn bộ vùng dự án 8.612,96 ha.
  • Đã xây dựng cơ sở khoa học vững chắc để đề xuất giải pháp công trình kết hợp: nạo vét mở rộng đáy ngòi lên 12 đến 15 m và xây mới trạm bơm tiêu động lực công suất 25 đến 30 m³/s.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho công tác quy hoạch phát triển nông nghiệp bền vững và bảo đảm an sinh xã hội cho 43.000 nhân khẩu thuộc hai huyện Tam Nông và Thanh Thủy.

Về lộ trình tiếp theo, các cơ quan chức năng cần nhanh chóng triển khai bước lập báo cáo nghiên cứu khả thi dự án nạo vét ngòi Dậu Dương giai đoạn 2015–2017 và xúc tiến bố trí nguồn vốn đầu tư xây dựng trạm bơm tiêu giai đoạn 2016–2018. Chính quyền địa phương và các đơn vị quản lý khai thác công trình thủy lợi cần khẩn trương áp dụng ngay các giải pháp kỹ thuật trong luận văn để hiện đại hóa hạ tầng nông nghiệp, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và thúc đẩy kinh tế khu vực phát triển bền vững.