CHƯƠNG 1 BẢO VỆ MOI TRƯỜNG Ở NÔNG THÔN TRONG CHƯƠNG TRÌNH. MỤC TIÊU QUOC GIA VE XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI. Xã hội ngày cảng phát triển, cùng theo đó là hàng loạt các vấn dé cần giải quyết. Hiện nay vấn để, làm sao dé bảo vệ môi trường sinh thái là vấn đề.
không chỉ diễn ra ở nước ta mà còn trên toàn thé giới. Cùng với sự phát triển của nén kinh tế thị trường thì vấn đề về môi trường ngày cảng nghiêm trọng. Hiện tượng 6 nhiễm môi trường không phải chỉ diễn ra ở các nước phát triển mã ở cả các nước dang phát triển, trong đồ có Việt Nam. Hiện nay ô nhiễm môi trường đang ngày cảng tram trong hơn: ô nhiễm không khí, 6 nhiễm đắt, nước và hậu quả mà chúng để lại là ảnh hưởng lớn về mọi mặt đối với cuộc sống của con người.
Các chất thải ngày cảng nhiều và phong phú hơn, trong khi đó các biện pháp xử lý thì kém hiệu quả cùng với sự không quan tâm một cách chính đáng đã làm cho môi trường ngày một tồi tệ hơn. Vì vậy, bảo vệ môi trường đang là một vẫn dé cap bach, 1. Quan hệ giữa phát lên kinh tế và bảo vệ môi trường, Phat triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế. Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống.
! Môi trường là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và các yếu 16 vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.” Giữa môi trường tự nhiên và phát triển kinh tế có mối quan hệ hết sức. chặt chẽ: môi trường tự nhiên là điều kiện cho kinh tế phát triển và kinh tế ˆ Ngiễn hp ii sriapehaorgsotVPSC3% AIL f4I%DBS3Sồn lánh «SEISHASBF phát triển là cơ sở tạo nên các biến đổi của môi trường tự nhiên theo hướng ngày cảng tốt hon. Ở những thời kỳ đầu của sự phát triển nền văn minh loài người, các lực. lượng tự nhiên gần như thống trị hoàn toàn cuộc sống của con người, quyết định tính chất và nội dung mối quan hệ qua lại giữa con người với giới tự nhiên.
Din din, do sự phát triển của lao động và hoạt động nhận thức, con người học được cách chế ngự tự nhiên, thiết lập sự thống trị của mình với giới tự nhiên nhằm phục vụ cho mục đích mã yêu cầu cuộc sống của con người đồi hỏi. Tự nhiên, ở bat kỳ giai đoạn nào trong sự phát triển của xã hội loài người cũng đều cung cấp cho con người những sản phẩm vật chất để con người sinh sống: cho con người nguồn nước tỉnh khiết để sinh hoạt, cho con người không. khí trong lành để hit thở. Đặc biệt trong quá trình thúc day kinh tế tăng trưởng con người đã phải lấy di của tự nhiên rit nhiều những bộ phận thân thể của nó như động, thực vật, dit đai, khoáng chất.
chính trong quá trình đó con người đã làm thay đổi giới tự nhiên.` Có thể nói rằng, những biến đổi to lớn trong, môi trường tự nhiên đều do quá trình tăng trưởng kinh té đem lại. Chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định chắc chắn rằng, cho đến nay, không có một ngõ. ngách nào của tự nhiên mà con người lại không động chạm vào vì mục đích phát triển kinh tế, và không có một nơi nào trong tự nhiên sau khi con người đụng chạm vào vì mục đích kinh tế ma lại trả lại cho nó dáng vẻ nguyên thủy ban đầu vốn có của nó, Vì mục đích phát triển kinh tế, con người đã tác động đến môi trường tự nhiên theo hai hướng có lợi hoặc có hại Khi con người hành động đúng quy luật, sẽ tạo ra hướng có lợi cho môi trường tự nhiên: trong quá trình thúc đây kinh tế tăng trưởng, con người đã tác động vào tự nhiên, it nhiều cũng đã cải tạo môi trường tự nhiên, năng, News p./tusschshuvienkhoshoe conhild/MÍSC]Bái tC5BOSELSRB IDI ISCIEAD_gSC3EAC SắP cao sự hiểu biết sâu hơn về giới tự nhiên và đặc biệt là có thể tạo ra điều kiện vật chất để cai tạo, tai tạo môi trường tự nhiên. Sự tăng trưởng kinh tế trên co sở áp dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào sản xuất đã phần nảo đó loại trừ được những hậu quả không mong muốn do sự tác.
động không kiểm soát được của con người gây ra cho tự nhiên, chẳng hạn, việc dùng lưới chuyên biệt để khai thác thủy hai sản đã loại trừ ra được những loại nhỏ để bảo đảm cân bằng môi trường biển và tạo vốn cho lần đánh bắt sau, Hơn nữa, chính sự tăng trưởng kinh tế sẽ tạo tiền đề vật chất để xử lý các sự cổ môi trường, đảm bảo cho môi trường trong sạch." Và trên thực tế, chúng ta học hoi để ngày cảng hiểu được một cách chính xác hơn những quy luật đó, và biết được những hậu quả gần gũi cũng như xa xôi của những sự can thiệp tích cực của chúng ta vào trong tiến trình bình thường của các sự vật trong giới tự nhiên. Nhất là từ khi khoa học tự nhiên đã thu được những tiến bộ vĩ đại trong thé ky hiện thời hi chúng ta lại ngà 1g đi đến chỗ hiểu biết được cả những hậu quả tự nhiên xa xôi, ít nhất là của những hành động thông thường nhất của chúng ta trong lĩnh vực sản xuất, và do đó, có thẻ chỉ phối được những hậu quả đó. Nhưng điều đó cảng trở thành sự thật thì con người không những càng cảm thấy mà lại càng thêm hiểu biết rằng mình với giới tự. nhiên chỉ là một Ngược lại, khi con người và xã hội tác động vào tự nhiên không theo quy luật, È tạo ra hướng có hại là gây nên 6 nhiễm môi trường tự nhiên, làm cho môi trường tự nhiên ngày cảng nghèo nàn, kiệt qué, sự cân bằng sinh thái sẽ bị phá vỡ và tự nhiên sẽ “tra thù” con người." Như vậy, giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tự nhiên vừa có sự thống nhất, vừa có sự mâu thuẫn.
Sự thống nhất và mâu thuẫn đó đều. Nevins prin 38phatien-Xih-tcphytam-viSao-ve.moi-tunng hon! Ê Nguồn hips fe rMVpripU4]3phat ien-kịnh de phai san toi bu ve mo ran | ". ha thé hiện ở nén sản xuất xã hội. Con người không ngừng sản xuất ra của cải vật chất.
Mọi của cai vật chất mà con người sản xuất ra xét đến củng bằng cach này hay cách khác đều lay vat liệu tir tự nhiên. Con người khác với con vật ở chỗ không chỉ sử dung các vật phẩm có sẵn trong tự nhiên ma còn cải tạo tự nhiên, bắt chúng phục vụ nhu cầu của mình. Như thế, sự thống nhất và mâu. thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tự nhiên là vĩnh viễn, nó còn tồn tại chừng nao con người còn tồn tai, Nghiên cứu về sự kết hợp giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, tự nhiên cho ta thấy việc đánh giá tác động của phát triển kinh tế đến vấn để bảo vệ môi trường tự nhiên và ngược lại.
Từ d6 giúp cho các nhà quản lý ra quyết định chủ động lựa chọn những phương án khả thi và tối ưu về kinh tế cũng như kỹ thuật trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mình. thời sẽ giúp chúng ta kết hợp một cách thông minh giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tự nhiên để có sự phát triển thực sự bén vũng. Vấn đề ô nhiễm môi trường nông thôn 'Nông thôn là nơi sinh sống và làm việc của một cộng đồng bao gồm chủ yếu là nông dan, là vùng sản xuất nông nghiệp là chính. Nông thôn có co cấu hạ tang, trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất hàng hóa thấp hon so với thành thị.
Ô nhiễm môi trường là tỉnh trạng môi trường bị ô nhiễm bởi các chất hóa học, sinh học. gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, các cơ thể sống khác. Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả các hoạt động của con người làm thay đổi các nhân tổ sinh thái vượt qua những giới hạn sinh thái của các quản xã sóng trong đất. Ô nhiễm nước là sự thay đôi theo chiều xấu.
về tính vật lý, hoá học, sinh học của nước, với sự xuất hiện các chat lạ ở thể. lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. giảm độ đa dạng sinh vật trong nước. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thi 6 nhiễm nước là vấn dé đáng lo ngại hơn 6 nhiễm đất.
trường không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự tỏa mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa do bụi. a) O nhiễm môi trường nông thôn đang ở mức báo động Tình trạng ô nhiễm môi trường ở nhiều nông thôn dang ở mức báo động, đã và đang gây ra những tác động mạnh mẽ và lâu dài đến sức khoẻ. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trang này. ling nghề gây ra, ở nhiều nơi thì do nước thải, chất thải từ sản xuất nông nghiệp như sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, rác thái sinh hoại.
Mỗi năm, khu vực nông thôn phát sinh trên 1.300 triệu m’ nước thải; 6,6 triệu tấn rác thải sinh hoạt, hơn 14.000 tin bao bì hoá chất bảo vệ thực vật, phân bón các loại, 76 triệu tắn rơm ra và khoảng 74 triệu tin chất thải chăn nudi,. tổng lượng phân bón vô cơ sử dung trong canh tác nông nghiệp vào khoảng 2.5 - 3,0 triệu tin, trong đó có đến 50-70% không được cây trồng hip thụ, thai ra gây ô nhiễm môi trường và suy thoái môi trường Theo một báo cáo môi trường, tỷ lệ thu gom chat thải rắn sinh hoạt tại khu vực nông thôn khoảng 40-55%, trong đó khoảng 60% số thôn hoặc xã tổ chức thu don định kỳ; trên 40% thôn, xã đã hình thành các tổ thu gom rác thai tự quản. Nhiễu xã không có quy hoạch các bãi rác tập trung, không có bãi rác công công, không quy định chỗ tập trung rác thải, không có người và không có phương tiện chuyên chở rác. Do đó, các bãi rác tự phát đã hình thành ở rất nhiều ơi, làm cho tinh trạng chất thải rắn sinh hoạt nông thôn trở thành vấn «48 nan giải khó xử lý ® b) Ô nhiễm ở làng nghề có xu hướng gia tăng.
Cả nước có trên 1.300 làng nghề đã được công nhận và 3.