CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÁC CÔNG TRÌNH NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN 1.1 Một số khái niệm - Công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung (sau đây gọi tắt là công trình): Là một hệ thống gồm các công trình khai thác, xử lý nước, mạng lưới đường ống cung cấp nước sạch đến nhiều hộ gia đình hoặc cụm dân cư sử dụng nước ở nông thôn và các công trình phụ trợ có liên quan; bao gồm các loại hình: cấp nước tự chảy, cấp nước sử dụng bơm động lực, cấp nước bằng công nghệ hồ treo. - Công trình cấp nước bằng động lực: Là công trình sử dụng máy bơm, bơm nước vào đường ống dẫn nước và phân phối nước. - Công trình cấp nước bằng trọng lực: Là công trình được sử dụng nước tự chảy, chảy vào đường ống dẫn nước và phân phối nước. - Công trình cấp nước sạch nông thôn nhỏ lẻ: à công trình cấp nước cho một hoặc một vài hộ gia đình sử dụng nước ở nông thôn; bao gồm các loại hình: công trình thu và chứa nước hộ gia đình, giếng thu nước ngầm tầng nông (giếng đào, giếng mạch lộ), giếng khoan đường kính nhỏ.
- Nước sinh hoạt: Là nước có nguồn gốc tự nhiên hoặc đã qua xử lý có các chỉ tiêu đạt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt theo quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành do Bộ Y tế ban hành. - Nước hợp vệ sinh: Là nước được sử dụng trực tiếp hoặc sau lọc thỏa mãn các yêu cầu chất lượng: Không màu, không mùi, không vị lạ, không chứa thành phần có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, có thể dùng để ăn uống sau khi đun sôi (Quyết định số 2570/2012/QĐ-BNN ngày 22/10/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). - Nước ăn uống: Là nước tự nhiên hoặc đã qua xử lý có các chỉ tiêu đạt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống theo quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành do Bộ Y tế ban hành. 5 - Mạng lưới cấp nước: Là hệ thống đường ống truyền dẫn nước sinh hoạt từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ.
- Sửa chữa nhỏ: Là loại sửa chữa mang tính chất thường xuyên trong năm nhằm duy trì sự hoạt động bình thường cho công trình. - Sửa chữa lớn: Là loại sửa chữa mang tính chất định kỳ nhằm bảo đảm công trình hoạt động như công suất thiết kế. - Bảo trì công trình: Là tập hợp các hoạt động gồm: bảo dưỡng thường xuyên, sửa chữa định kỳ và sửa chữa đột xuất nhằm duy trì tình trạng kỹ thuật và hoạt động bình thường của công trình. - Đơn vị quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng công trình cấp nước tập trung nông thôn: Là cơ quan, tổ chức, đơn vị được Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quyết định giao công trình để trực tiếp quản lý, sử dụng và khai thác; gồm: + Đơn vị sự nghiệp công lập, gồm: Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, Ban quản lý nước sạch, đơn vị sự nghiệp công lập khác.
+ Doanh nghiệp, gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân. + Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp xã). - Khách hàng sử dụng nước: Là tổ chức, cá nhân và hộ gia đình mua nước sinh hoạt của đơn vị cấp nước.2 Vai trò và đặc điểm của công trình nước sinh hoạt nông thôn Nước sạch đóng vai trò rất quan trọng đối với sức khỏe và cuộc sống của con người. Nước sạch giúp cho con người duy trì cuộc sống hàng ngày bởi con người sử dụng nước sạch để cung cấp cho các nhu cầu ăn uống, hoặc sử dụng cho các hoạt động sinh hoạt như tắm rửa, giặt giũ, rửa rau, vo gạo.
Để thỏa mãn các nhu cầu vệ sinh cá nhân và sinh hoạt, mỗi người cần tới khoảng 120 lít nước/ngày. Nước sạch không chỉ là trong, không màu, không mùi, không vị mà còn phải an toàn đối với sức khỏe của người sử dụng. Nếu sử 6 dụng nước không sạch thì sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe, vì nước là môi trường trung gian chuyển tải các chất hóa học và các loại vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng gây bệnh mà mắt thường không nhìn thấy được. Nước sạch là nước phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của con người như nước dùng để ăn, uống, tắm rửa, giặt, chuẩn bị nấu ăn, cho các khu vệ sinh, tưới đường, tưới cây…Loại nước này chiếm đa số trong các khu dân cư.
Hệ thống cấp nước sinh hoạt là phổ biến nhất và chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số các hệ thống cấp nước hiện có. Nưới dùng trong sinh hoạt phải đảm bảo các tiêu chuẩn về hóa học, lý học và vi sinh theo các yêu cầu của quy phạm đề ra, không chứa các thành phần lý, hóa học và vi sinh ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Đối với hệ thống cấp nước sinh hoạt hoàn chỉnh và hiện đại, nước ở bất kỳ điểm lấy nước nào trên mạng lưới đều là nước uống trực tiếp được. Yêu cầu này thường đạt được ở các nước phát triển.
Ở nước ta, nước tại trạm sử lý nơi phát vào mạng lưới tại một số công trình cấp nước cũng đạt được tiêu chuẩn vệ sinh cần thiết để có thể uống trực tiếp được, nhưng tại các nơi tiêu dùng nước chưa đảm bảo được độ tin cậy cần thiết do đường ống cũ nát, bị rò rỉ nhiều tại các mối nối và các phụ kiện. Nước chiếm tỷ trọng lớn trong cơ thể con người (70% -75%). Thiếu nước sẽ gây ra các bệnh về da, não, nội tiết. Nước đưa các chất dinh dưỡng vào cơ thể và giúp thải các chất cặn bã ra ngoài để duy trì sự sống.
Nhu cầu nước uống cho một người là từ 1,5 đến 2,5 lít mỗi ngày. Bộ y tế đã ban hành một số thông tư ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn về chất lượng nước như: Thông tư 05/2009/TT-BYT ngày 17/6/2009 ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt gồm 14 chỉ tiêu; Thông tư 04/2009/TT-BYT ngày 17/6/2009 ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống gồm 109 chỉ tiêu.3 Hiệu quả quản lý và sử dụng công trình nước sinh hoạt nông thôn Trong những năm trước đây, các công trình cấp nước sạch nông thôn sau khi đầu tư xây dựng đều được bàn giao lại cho ủy ban nhân dân xã tổ chức quản lý theo các mô hình như thành lập tổ quản lý vận hành hoặc giao cho Hợp tác xã dịch vụ hoặc cộng đồng quản lý. Tuy nhiên những mô hình này đã bộc lộ nhiều hạn chế như: công tác quản lý, bảo vệ công trình bị buông lỏng; phân công trách nhiệm không rõ ràng; năng lực chuyên môn nghiệp vụ của những người trực tiếp quản lý vận hành công trình 7 chưa đáp ứng yêu cầu, chưa qua đào tạo chuyên môn, thiếu kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp; thiếu công cụ và phương tiện kiểm tra, xử lý các sự cố xảy ra trong quá trình vận hành; kinh phí hoạt động không được hạch toán độc lập và quyền tự chủ về tài chính không rõ ràng; không được xét nghiệm, kiểm tra và giám sát của cơ quan chuyên môn về chất lượng nước; mức lương của người tham gia quản lý vận hành công trình thấp nên không gắn bó trách nhiệm với công trình… khiến cho nhiều công trình hoạt động kém hiệu quả, nhanh xuống cấp thậm chí hư hỏng không còn sử dụng được, làm lãng phí nguồn vốn ngân sách Nhà nước, tạo ra dư luận xấu trong nhân dân. Để khắc phục những hạn chế đó, cùng với việc đẩy mạnh đầu tư xây dựng các công trình nước sạch cho khu vực nông thôn, nhiều địa phương từng bước tiến hành chuyển đổi mô hình quản lý vận hành với việc giao một số công trình cho các doanh nghiệp và Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý.
Ngay sau khi được giao quản lý, các đơn vị đã thành lập các trạm cấp nước để vận hành, khai thác công trình. Hiện các trạm đang hoạt động ổn định, đảm bảo cung cấp nước sạch 24/24h cho người dân. Nhiều hộ dân ban đầu còn lo ngại, hoài nghi về tính hiệu quả của công trình nhưng giờ đây đã hoàn toàn tin tưởng và ngày càng có nhiều hộ dân đăng ký đấu nối để được sử dụng nước sạch. Mô hình Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý công trình cấp nước nông thôn tập trung có nhiều ưu điểm như: tính ổn định, chuyên nghiệp; được trang bị đầy đủ công cụ và phương tiện kiểm tra, xử lý kịp thời sự cố xảy ra trong quá trình vận hành; chất lượng nước được xét nghiệm định kỳ tại Phòng xét nghiệm nước của Trung tâm, chịu sự giám sát của người dân và các cơ quan chuyên môn; công tác duy tu bảo dưỡng được thực hiện thường xuyên, máy móc, thiết bị được bảo dưỡng định kỳ; có nhiều điều kiện thuận lợi để cải tiến công nghệ, nâng cấp thiết bị…, áp dụng công nghệ thông tin, chuyên môn hóa về lĩnh vực dịch vụ cấp nước nông thôn.
Mô hình doanh quản lý lý công trình cấp nước nông thôn tập trung có nhiều ưu điểm như giao cho Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý. Tuy nhiên, đối với các tỉnh miền núi do dân cư sống không tập trung, mật đô dân cơ thấp, thu nhập đời sống của nhân dân thấp, giá thành nước lại không cao, dẫn đến chi phí quản lý lớn, rễ bị thua lỗ, trong khi đó nhà nước lại không có chính sách trợ giá dẫn 8 đến các doanh nghiệp không mặn mà trong việc tiếp nhận công trình ở vùng sâu, vùng xa; họ chỉ quan tâm đến các công trình tập trung ở thị trấn, thị tứ hoặc các xã có mật độ dân cư đông, có kinh tế khá giả hoặc chỉ tiếp nhận các công trình cấp nước trọng lực, rễ vận hành.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý và sử dụng công trình nước sinh hoạt nông thôn 1.1 Yếu tố về tự nhiên, xã hội. Tình trạng ô nhiễm nước bề mặt và nước ngầm ngày càng gia tăng. Ô nhiễm nguồn nước do chất thải rắn và lỏng từ các hoạt động sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, bệnh viện.
được thải trực tiếp vào môi trường mà không qua bất kỳ một khâu xử lý nào.