CHƯƠNG I TONG QUAN KET QUÁ NGHIÊN CÚU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUA QUAN LÝ TƯỚI 1.1 Khái quát về hệ thống t6 chức quản lý tưới ở nước ta Đến nay, cả nước hiện có 110 hệ thống thủy lợi lớn (có điện tích phục vụ lớn hơn 2.831 hỗ chứa các loại với tổng dung tích trữ nước trên 35.34 tỷ mÌ; trên 10000 trạm bơm điện lớn: hàng chục nghìn cống tưới tiêu các loại; trên 254.800 km kênh mương (trong đó có trên 1.000 km kênh trực lớn): khoảng 6.100 km đê sông, trên 2.500 km đê biển và trên 25.800 km bờ bao ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong đỏ, có 904 hệ thống thủy lợi quy mô vữa và lớn có diện tích phục vụ tưới tiêu từ 200 ha trở lên. Hệ thống công tinh thủy lợi là cơ sở hạ ting quan trọng, phục vụ tưới iêu cho diện tích cây trồng, góp phn quan trọng làm ting năng su, sản lượng và chit lượng sản phẩm nông nghiệp, thuỷ sin, đồng thời góp phần phòng chống giảm nhẹ thién tai và thúc diy phát triển các ngành kính tế: xã hội. Trên phạm vi cả nước đã hình thành một cơ sở vật chất hạ ting kỹ thuật thủy lợi, bảo đảm tưới, tiêu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, mui trồng thuỷ sin và phát điện tiêu nước cho các khu dân cư đồ thị và nông thôn, đã khắc phục được đáng kể tình trang ứng, hạn, mở rộng diện tích gieo trồng, cải tạo đất, thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng.
Tổng năng lực. thiết kế tưới của các hệ thống bảo đảm cho khoảng 3.45 trigu ha dit canh tác, VỀ điện tích gieo trồng được tưới, theo báo cáo của các địa phương, năm 2008, tổng. điện tích đất trồng lúa được tưới đạt 692 triệu ha, trong đó vụ Đông Xuân: 3,04 triệu ha, vụ He Thu: 2,06 triệu ha, vụ Mùa: 1,82 triệu. Diện tích rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày được tưới hiện đã đạt khoảng 1,50 triệu ha.
Đảm bảo tiêu thoát nước cho 1,72 triệu ha đất nông nghiệp. Các công trình thủy lợi còn góp phần.87 triệu ha, ải tạo chua phền L7 triệu ha và duy tì cấp nước cho sin hoạt va sản xuất ef ý nghiệp rên 56ố tỷ minim, Hệ thống tổ chức quản lý khi the công tinh thủy lợi ở nước ta bao gồm có 2 loại hình chủ yêu là: Doanh nghiệp nhà nước quản lý khi thác công tình thủy lợi và các ổ chức thủy nông cơ sở. Các tổ chức thủy nông cơ sở làm nhiệm vụ "cầu nối” giữa Doanh nghiệp nhà nước quản lý KTCTTL và người dùng nước. 44) Doanh nghiập khai thác công trình thủy lợi Hầu hết các tỉnh.
có các công ty khai thác công trình thủy lợi quản lý các công trình thủy lợi vừa và lớn và các tổ chức hợp tác dùng nước quản lý các công trình thủy lợi nhỏ và hệ thống kênh nội đồng. Do được nhà nước quan tâm, tạo đi kiện về tài chính, nhân lực và cơ sở vật chất, nhìn chung các tổ chức quản lý công, trình thủy lợi đã vận hành khai thác công trình hiệu quả, góp phần quan trọng trong. việc phát tiển sin xuất và phục vụ đời sống của nhân dân “Theo số iệu của Cục Thủy lợi, hiện nay cả nước có 95 doanh nghiệp khai thác sông tinh thủy lợi (ong đô cỏ 3 công ty liên tinh trực thuộc Bộ NN&PTNT, còn lại là các công ty trực thuộc UBND cắp tỉnh. Số lượng các doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi đối với từng vùng như ở bảng 2.
Các doanh nghiệp khai thác. công trình thủy lợi gdm các loại hình sau: + Công ty Nhà nước quản lý khai thác công trình thủy lợi (42): + Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi (47): + Công ty cỗ phn quan lý, khai thác công trình thủy lợi (4); + Công ty xây dựng tham gia quản lý khai thác (2). “Trong số các doanh nghiệp, có 3 công ty quản lý hệ thống thủy lợi liên tỉnh. trực thuộc Bộ NN & PTNT, số còn lại quản lý các hệ thống thủy lợi liên huyện hoặc trong một huyện trực thuộc UBND tỉnh hoặc huyện.
Các công ty khai thác công trình thủy lợi (IMC) tinh quản lý các công trình du mỗi. kênh true chính. kênh cắp 1, 2, 3 thuộc hệ thống thủy lợi có qui mô lớn và vừa. Hiện nay các công ty quan lý 91% tổng số công trình hiện có phục vụ tới cho 80% tổng diện tích được tưổi “Thực hi chủ tương sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước theo Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 do Quốc Hội khoá XI thông qua ngày 29/11/2005 và Quyết định 38/2007/QĐ-TTy ngày 20/3/2007 của Chính phủ, một s6 doanh nghiệp Nha nước về quản lý KTCT thủy lợi đã chuyển đổi thành Công ty trách nhiệm hữu.
hạn một thành viên hoặc công ty cỗ phần. Tuy nhiên, đến nay một số tí tỉnh đang tiến hành cỗ phần hoá IMC, chuyển đổi doanh nghiệp thủy nông thành “Công ty trách nhiệm hữu han một thành viên" theo Nghĩ định 95 của Chính phủ nhằm khẳng inh vai trò của nha nước đ với dịch vụ thủy nông, tao ra một tổ chức quản lý thật si gn với trách nhiệm và quyền lợi của người dân và của cả người quản lý b) TẢ chức thủy ning cơ sở Ngoài ra, còn có các Tổ chức Hợp tác dùng nước phối hợp quản lý các công tình thủy lợi nhỏ và thủy lợi nội đồng. Cả nước hiện có 16,238 Tổ chức Hợp tác dùng nước, bao gbm các loại hình chủ yếu: () Hợp tác xã có làm dịch vụ thủy lợi Hop tác xã dich vụ nông nghiệp và Hợp tác xã chuyên khâu thủy nông), (i) Tổ hợp tác dùng nước (Hội sử dụng tước, Tổ hợp tác, Tổ, Đội thủy nông); và (iii) Ban quản ý thủy nông. Trong đó, Hợp tác xã và Tổ hợp tác là bai loại hình chính, chiếm tới 90%.
©) Những tổn tại chính + Việc phát huy năng lực thiết ké cia các công trình thủy lợi chưa cao “Trong khi có nhiều hệ thống thủy lợi phát huy tốt nông lục đự mức cao hơn so với thiết kế ban đầu, như: |. Sông Quao, (Ca Giấy (Bình Thuận), thi nhiều hệ thống chưa phát huy hết năng lực so với thế KẾ, Hệ thống công trình thủy lợi nội đồng chưa hoàn chỉnh, việc quản lý còn thiên chặt chẽ nên chưa phát huy hết năng lực của công tình. Diện tích được bảo đảm “chủ động tưới, tiêu thấp. + _Nhiễu hệ thống thủy lợi bị x Nhiều công tình xuống cắp nhanh do không được sửa chữa, bảo dưỡng diy đủ, kịp thời, một số cống ngăn mặn ở đồng bằng sông Cửu Long và nhiều công trình thủy lợi khác đã đầu tư, vận hình lâu nhưng không được sa chữa, ning cấp.
Nhiều hệ thống hồ chứa, đập ding và công «inh thủy lợi khác đầu tư, khai thác được 30- 40 năm, dé nay xuống cấp, cin ning cấp, sửa chữa nhưng tị éu kinh phí kip thời, in đến hiệu qua hoạt động chưa cao, iém ấn nguy cư mắt an toàn + Hiệu quả hoạt động của các tô chức quản lý khai thác công trình thủy lợi côn tiấp Bộ máy tổ chức quản lý khai thác công tinh thủy lợi thiếu ôn định, chưa phát huy hi :m năng của công trinh cũng như năng lực thực tế hiện có. Tâm lý trông chở, ÿ lại vào nhà nước ngày càng năng né, năng suất, hiệu quả lao động ngày càng. giảm * Đối với doanh nghiệp quản lý khai thắc công tink thủy lợi ~ Hầu hết các don vị quản lý khai thác công trình thủy lợi (ở cấp tỉnh) đều là đoan nghiệp nhà nước. Quản lý doanh nghiệp vẫn mang tính chất mệnh lệnh hành chính, vận hành theo cơ chế bao cấp đã hạn chế tính chủ động của doanh nghiệp.
'Trong khi môi trưởng xã hội diy biến động. = Năng lực cần bộ lãnh đạo quản lý, chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp phần lớn còn thấp, nên công tác tổ chức và triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lý khai thác ‘ong trình thủy lợi chưa tốt. ~ Tổ chức quản trị sản xuất thiểu khoa học, sản xuất không hiệu quả nên chỉ phí sản xuất cao, bộ máy ngày cảng phinh to, năng suất lao động thấp, chỉ tiền lương tăng * Bai với Tổ chức hợp tác ding nước ~ Tổ chức hợp tie ding nước không đồng bộ, hiệu quả hoạt động chưa cao Vai tò, trách nỉ êm của người hưởng lợi chưa được ap đúng mức. = Một số mô hình tổ chúc được thành lập theo kiểu áp đặt từ trên xuống nên chưa làm tốt vai trò cầu nối, hoạt động kém hiệu quả, bền vững.
10 = Cơ chế huy động người din tham gia quản lý khai thác chưa được diy mạnh, nhiều công trình phân cấp cho xã nhưng không có chủ quản lý. 12 Tổng quan vỀ các mô hình tễ chức quản ý các công trình thấy lợi liên xã Chính phủ đã khởi xướng chuyển giao quản lý tưới từ các công tình thủy lợi nhỏ cho các tổ chức ding nước từ đầu những năm 1998. Tuy hiền, qua của quá trình chuyển giao cho đến nay còn rét khiêm tốn. Trong khi hầu hết các công trình thủy lợi là liên xã hoặc liên huyện thi việc chuyển giao lại hầu hết chỉ thực hiện cho những công trình nhỏ nằm gọn trong một xã.
Các mô hình quản lý công trình thủy lại liên xã là mô hình chuyên khâu về thay nông quản lý công trình thủy lợi liên xã cđưới các hình thức phổ biến là Ban quản lý công trình thủy lợi ở tỉnh Tuyên Quang và Hợp tác xã dùng nước ở một số tỉnh do các dự án quốc tế hỗ trợ. Mô hình Ban quản lý công trình thủy lợi Ngôi Là là công trinh thủy lợi lớn nhất của tinh Tuyên Quang, cung cắp nước tưới cho 392 ha thuộc 4 xã Ÿ La, Trung Môn, Hưng Thành và Kim Phú, trong đó 2 xã Ý La và Trang Môn thuộc huyện và 2 xã Hung Thành và Kim Phi thuộc thị xã Tuyên Quang. Tir năm 1996, theo chính sách đổi mới hệ thống quản lý thủy nông của tỉnh Tuyên Quang, Công ty thủy nông được giải thể và mô hình Ban quản lý công trình thủy lợi (CTTL) Ngồi La được thành lập để quản lý hỗ Ngôi Là. Ban quản lý CTTL Ngôi Là là mô hình đồng trách giữa Ban quản lý và Hợp tác xã nông lâm nghiệp (HTXNLN) quản lý hồ `Ngòi Là là công trình thủy lợi liên xã, liên huyện.
Loại hình Hợp tác xã dùng nước là mô hình chuyên khâu thủy nông có cơ cấu tổ chức, hoạt động theo quy định của hi Hợp tác xã có tư cách pháp nhân, tài khoản và con dấu.