Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2008 - 2013, ngành du lịch tỉnh Bình Định đã ghi nhận bước tăng trưởng vượt bậc với tổng lượt khách đạt hơn 1.696.000 lượt vào năm 2013, tăng gấp 2,38 lần so với mức 712.000 lượt của năm 2008. Đi cùng với đó, tổng doanh thu du lịch toàn tỉnh tăng từ 187 tỷ đồng năm 2008 lên 603 tỷ đồng năm 2013, đạt tốc độ tăng trưởng doanh thu ấn tượng 31,3% vào năm 2013. Mặc dù sở hữu 134 km bờ biển cùng hệ thống 234 di tích lịch sử - văn hóa giàu giá trị, sự phát triển du lịch của tỉnh vẫn đối mặt với rào cản lớn về chất lượng và cơ cấu lực lượng lao động trực tiếp. Đội ngũ nhân lực du lịch với 4.278 người vào năm 2013 chưa khai thác hết tiềm năng tài nguyên hiện có.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là phân tích, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực du lịch tỉnh Bình Định giai đoạn 2008 - 2013, nhận diện những điểm nghẽn về cơ cấu trình độ, độ tuổi và kỹ năng nghề nghiệp. Từ đó, đề tài xây dựng hệ thống giải pháp toàn diện nhằm phát triển nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương. Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi không gian toàn tỉnh Bình Định, tập trung vào đối tượng lao động trực tiếp trong các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp kinh doanh du lịch. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc lượng hóa các chỉ tiêu phát triển nhân lực, cung cấp căn cứ thực chứng để nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn sâu từ 52,9% lên 60% vào năm 2015 và đạt trên 85% vào năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết nguồn nhân lực của Liên Hợp Quốc và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), kết hợp lý thuyết vốn nhân lực (Human Capital Theory) trong phân tích năng lực lao động ngành dịch vụ. Khung lý thuyết vận dụng mô hình phát triển nhân lực toàn diện trên ba trục cốt lõi: số lượng, chất lượng (thể lực, trí lực, tâm lực) và cơ cấu (ngành nghề, trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi). Ngoài ra, đề tài tiếp thu mô hình đào tạo nghề song hành (Dual System) của Cộng hòa Liên bang Đức kết hợp khung quản trị đào tạo nhân lực suốt đời của Nhật Bản để soi chiếu vào bối cảnh du lịch địa phương.

Bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa xuyên suốt luận văn bao gồm: Nguồn nhân lực du lịch (toàn bộ lao động trực tiếp và gián tiếp tham gia vào chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch), Phát triển nguồn nhân lực (quá trình biến đổi tiến bộ về số lượng, chất lượng và cơ cấu nhân lực), Năng lực nghề nghiệp du lịch (sự kết hợp giữa kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành và thái độ phục vụ), và Chuẩn hóa nhân lực du lịch (thiết lập các tiêu chuẩn năng lực nghề phù hợp khung trình độ quốc gia và khu vực).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2008 - 2013 từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Định, báo cáo tổng kết của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Định, và số liệu dự báo nhu cầu nhân lực đến năm 2020 của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua đợt khảo sát thực tế vào tháng 12/2013 và tháng 3/2014.

Về quy mô và phương pháp chọn mẫu: Trên tổng thể 278 cơ sở kinh doanh du lịch đang hoạt động trên địa bàn tỉnh tính đến ngày 31/12/2013, nghiên cứu thực hiện điều tra trên cỡ mẫu gồm 200 cơ sở kinh doanh du lịch (đạt tỷ lệ khảo sát 71,9% tổng thể) thông qua phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng. Khảo sát đã quan sát và thu thập thông tin chi tiết của 3.956 lao động trực tiếp tại các doanh nghiệp. Công cụ thu thập dữ liệu là phiếu câu hỏi chuẩn hóa gồm 3 phần với 12 mục hỏi kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ quản lý.

Lý do lựa chọn phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và phương pháp so sánh nhằm lượng hóa chính xác mức độ biến động cơ cấu nhân lực, phát hiện các khoảng trống năng lực giữa yêu cầu thực tế của doanh nghiệp và kết quả đào tạo. Toàn bộ dữ liệu điều tra được mã hóa và xử lý trên phần mềm chuyên dụng trong mốc thời gian từ tháng 12/2013 đến tháng 12/2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô nguồn nhân lực du lịch tăng trưởng nhanh nhưng tỷ trọng đóng góp vào lực lượng lao động chung còn ở mức khiêm tốn. Số lao động trong ngành tăng từ 1.954 người năm 2008 (chiếm 0,27% tổng lao động toàn tỉnh) lên 4.278 người năm 2013 (chiếm 0,46%), đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 16,0%/năm. Riêng năm 2013, số lượng nhân sự tăng 21,0% so với năm 2012, song vẫn chưa tương xứng với mức tăng trưởng 24% về doanh thu du lịch toàn tỉnh.

Thứ hai, cơ cấu trình độ chuyên môn tồn tại bất cập nghiêm trọng khi tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm tới 47,1% (1.864 người trong tổng số 3.956 lao động quan sát tại khối doanh nghiệp). Trong nhóm 52,9% lao động đã qua đào tạo (2.092 người), số người có chứng chỉ đào tạo ngắn hạn dưới 3 tháng chiếm 29,1% và trung cấp chiếm 26,1%; trình độ cao đẳng, đại học chiếm 44,3%, trong khi tỷ lệ có trình độ sau đại học chỉ đạt vỏn vẹn 0,5% (9 người).

Thứ ba, tình trạng thiếu hụt lao động chất lượng cao diễn ra phổ biến đi kèm sự thiếu ổn định về hợp đồng làm việc. Kết quả khảo sát 200 doanh nghiệp cho thấy có 34,0% đơn vị thiếu hụt lao động quản lý và 25,5% thiếu lao động nghiệp vụ. Đồng thời, có tới 61,2% lao động (2.423 người) làm việc theo hợp đồng ngắn hạn, cao gấp 1,58 lần so với số lao động ký hợp đồng dài hạn (39,8% với 1.533 người).

Thứ tư, cơ cấu ngành nghề phân bổ lệch lớn về phía lao động chân tay và thiếu hụt nhân sự chuyên môn nghiệp vụ mũi nhọn. Lao động bàn - bar chiếm tỷ trọng cao nhất với 24,7% (978 người), tiếp đến là phục vụ buồng chiếm 15,5% (615 người). Trái lại, đội ngũ hướng dẫn viên du lịch chỉ chiếm 1,5% (57 người), thông dịch viên chiếm 1,5% (59 người) và nhân viên bán tour thị trường chiếm 5,4% (214 người).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của những hạn chế trên xuất phát từ tính chất mùa vụ đặc thù của du lịch biển miền Trung, khiến các doanh nghiệp ưu tiên tuyển dụng lao động ngắn hạn nhằm tối ưu chi phí vận hành. Bên cạnh đó, hệ thống đào tạo nghề du lịch tại địa phương còn thiếu tính liên kết thực tiễn, cơ sở vật chất thực hành hạn chế và đội ngũ giảng viên chưa được chuẩn hóa sâu về kỹ năng chuẩn nghề du lịch.

Khi so sánh với các địa phương lân cận, Bình Định có sự tụt hậu nhất định. Điển hình như thành phố Đà Nẵng đã triển khai thành công giải pháp phân luồng du khách gắn với chiến lược đào tạo chuyên sâu và thu hút nhân tài, giúp doanh thu lữ hành năm 2013 đạt 588 triệu đồng với mức tăng trưởng 15%. Tỉnh Khánh Hòa đã chủ động hợp đồng đào tạo tại chỗ với các cơ sở chuyên nghiệp cho hơn 3.000 học viên. Tại Bình Định, chất lượng nhân lực khối hành chính sự nghiệp tuy có 89,7% đạt trình độ đại học và cao đẳng vào năm 2013 (61/68 người), nhưng tốc độ tăng trưởng của khối này chỉ đạt 11,7%/năm, thấp hơn tốc độ tăng trưởng 16,0%/năm của toàn ngành, gây sức ép lớn lên công tác quản lý quy hoạch.

Dữ liệu đánh giá của doanh nghiệp về kiến thức chuyên môn qua các bảng khảo sát cho thấy có 20,5% lao động nghiệp vụ và 15,5% lao động quản lý chưa đáp ứng yêu cầu công việc; tỷ lệ đáp ứng ở mức trung bình chiếm thế áp đảo với 45,0% ở nhóm nghiệp vụ và 41,5% ở nhóm quản lý. Tỷ lệ nhân sự đạt mức độ giỏi rất hạn chế, chỉ đạt 7,5% ở khối quản lý và 12,0% ở khối nghiệp vụ. Thực tế này khẳng định nhu cầu cấp bách phải tái cấu trúc toàn diện chu trình tuyển dụng, đào tạo và sử dụng lao động.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao chất lượng đào tạo và chuẩn hóa mạng lưới giáo dục nghề du lịch. Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định phối hợp cùng Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ đạo đổi mới giáo trình đào tạo theo hướng thực hành ứng dụng, áp dụng mô hình liên kết đào tạo kép giữa nhà trường và khách sạn 3 - 4 sao. Mục tiêu đặt ra là đến năm 2015 có 75% cơ sở đào tạo du lịch đáp ứng yêu cầu xã hội với 80% giảng viên được chuẩn hóa, phấn đấu đến năm 2020 đạt 100% cơ sở đào tạo và giáo viên đạt chuẩn chuyên môn.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác bồi dưỡng kỹ năng chuyên sâu và ngoại ngữ cho người lao động. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì mở các lớp tập huấn định kỳ về nghiệp vụ buồng, bàn, bar, lễ tân và kỹ năng giao tiếp quốc tế. Phấn đấu nâng tỷ lệ lao động du lịch qua đào tạo chuyên môn sâu từ mức 52,9% lên 60% vào năm 2015 và đạt trên 85% vào năm 2020, từng bước phổ cập trình độ ngoại ngữ giao tiếp đạt chuẩn cho 100% nhân viên tuyến trước.

Thứ ba, xây dựng chính sách ưu đãi nhằm thu hút và duy trì nguồn nhân tài du lịch chất lượng cao. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành cơ chế hỗ trợ nhà ở, thu nhập tăng thêm và phụ cấp nghề nghiệp cho đội ngũ quản trị cấp cao, chuyên gia lữ hành và hướng dẫn viên giỏi về công tác tại địa phương. Doanh nghiệp cần chuyển dịch cơ cấu việc làm, giảm tỷ lệ hợp đồng lao động ngắn hạn từ 61,2% xuống dưới 40% trong giai đoạn 2015 - 2020 nhằm tạo sự gắn bó lâu dài của người lao động.

Thứ tư, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và phát huy trách nhiệm đào tạo nội bộ của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú và dịch vụ ăn uống chủ động trích từ 10% đến 15% quỹ phát triển sự nghiệp để bồi dưỡng nhân sự tại chỗ, đồng thời tiếp nhận sinh viên thực tập từ 3 đến 6 tháng. Cơ quan quản lý nhà nước hoàn thiện hệ thống thanh tra, giám sát tiêu chuẩn xếp hạng sao gắn liền với tỷ lệ chuẩn hóa văn bằng, chứng chỉ nghề của nhân viên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch bao gồm Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Ủy ban nhân dân các cấp. Luận văn cung cấp hệ thống số liệu thực chứng từ 2008 - 2013 và ma trận phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức để các đơn vị này xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực du lịch cấp tỉnh đến năm 2020.

Thứ hai, ban giám đốc và bộ phận nhân sự của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, khách sạn, nhà hàng trên địa bàn miền Trung. Kết quả khảo sát 200 cơ sở kinh doanh giúp nhà quản lý nhận diện chính xác thực trạng thiếu hụt 34,0% nhân sự quản lý, từ đó thiết kế lại khung đãi ngộ và chuyển đổi hợp đồng lao động ngắn hạn nhằm giữ chân lao động lành nghề.

Thứ ba, các trường đại học, cao đẳng và trung tâm đào tạo nghề du lịch. Các đơn vị giáo dục có thể sử dụng kết quả đánh giá khoảng cách kỹ năng của 3.956 lao động để điều chỉnh chương trình đào tạo, mở rộng chỉ tiêu đào tạo hướng dẫn viên du lịch (hiện chỉ chiếm 1,5%) và thông dịch viên nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của thị trường.

Thứ tư, học viên cao học, nghiên cứu sinh và các chuyên gia nghiên cứu kinh tế du lịch. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên trong khảo sát nhân lực du lịch cấp địa phương và quy trình chuẩn hóa dữ liệu thống kê mô tả phục vụ các đề tài nghiên cứu chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

Tốc độ tăng trưởng nguồn nhân lực du lịch tỉnh Bình Định giai đoạn 2008 - 2013 đạt mức bao nhiêu? Trong giai đoạn 2008 - 2013, quy mô nhân lực ngành du lịch Bình Định tăng trưởng bình quân 16,0%/năm, từ 1.954 người lên 4.278 người. Riêng năm 2013, số lao động tăng trưởng 21,0%, góp phần quan trọng phục vụ 1,696 triệu lượt khách và đóng góp vào tổng doanh thu 603 tỷ đồng của toàn tỉnh.

Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo trong các doanh nghiệp du lịch Bình Định chiếm bao nhiêu phần trăm? Theo số liệu điều tra thực tế trên 3.956 lao động tại 200 doanh nghiệp, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm tới 47,1% (1.864 người). Trong 52,9% lao động đã qua đào tạo, nhóm có chứng chỉ ngắn hạn dưới 3 tháng chiếm 29,1% và trung cấp chiếm 26,1%, phản ánh chất lượng tay nghề chuyên sâu còn nhiều hạn chế.

Cơ cấu hợp đồng lao động tại các cơ sở kinh doanh du lịch Bình Định có đặc điểm gì nổi bật? Cơ cấu hợp đồng lao động mang tính ngắn hạn rõ rệt khi hợp đồng ngắn hạn chiếm tới 61,2% với 2.423 lao động, cao gấp 1,58 lần so với hợp đồng dài hạn (chiếm 39,8% với 1.533 người). Thực trạng này cho thấy sự biến động nhân sự lớn và tính thiếu ổn định trong việc duy trì lực lượng phục vụ chuyên nghiệp.

Nhóm ngành nghề nào chiếm tỷ trọng lao động lớn nhất trong các doanh nghiệp du lịch tại Bình Định? Lao động tập trung đông nhất ở bộ phận phục vụ bàn - bar với 24,7% (978 người) và phục vụ buồng với 15,5% (615 người). Trong khi đó, các nhóm lao động đòi hỏi trình độ nghiệp vụ cao như hướng dẫn viên du lịch và thông dịch viên chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp, tương ứng 1,5% mỗi nhóm nghề.

Mục tiêu chuẩn hóa tỷ lệ lao động qua đào tạo du lịch của tỉnh Bình Định đến năm 2020 là gì? Tỉnh Bình Định đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động được đào tạo chuyên môn sâu về du lịch đạt 60% vào năm 2015 và đạt trên 85% vào năm 2020. Đồng thời, toàn tỉnh phấn đấu đạt 100% các cơ sở đào tạo và đội ngũ giảng dạy du lịch được chuẩn hóa theo chuẩn nghề quốc gia.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn quốc tế về phát triển nguồn nhân lực du lịch, đặc biệt là bài học đào tạo nghề kép từ Đức và quản trị nhân lực suốt đời từ Nhật Bản.
  • Công trình đã lượng hóa chi tiết bức tranh nhân lực du lịch Bình Định giai đoạn 2008 - 2013 thông qua khảo sát mẫu 200 doanh nghiệp với 3.956 lao động, ghi nhận tốc độ tăng trưởng nhân lực đạt 16,0%/năm.
  • Nghiên cứu nhận diện rõ 4 điểm nghẽn then chốt: 47,1% lao động chưa qua đào tạo, 61,2% lao động ký hợp đồng ngắn hạn, 34,0% doanh nghiệp thiếu lao động quản lý và sự thiếu hụt nghiêm trọng hướng dẫn viên du lịch.
  • Luận văn đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược khả thi, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ lao động du lịch qua đào tạo chuyên sâu đạt trên 85% và chuẩn hóa 100% cơ sở đào tạo vào năm 2020.
  • Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo khoa học hữu ích cho các cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Định.

Đóng góp chính của đề tài là cung cấp luận cứ khoa học thực chứng đầu tiên về phát triển nhân lực du lịch Bình Định trong thời kỳ tăng trưởng nóng 2008 - 2013. Trong giai đoạn tiếp theo, các đơn vị quản lý cần tiếp tục số hóa cơ sở dữ liệu nhân lực và kiểm định định kỳ chất lượng đào tạo trước năm 2020. Hãy áp dụng ngay các giải pháp đề xuất từ luận văn để tối ưu hóa nguồn lực nhân sự, góp phần đưa du lịch Bình Định bứt phá trở thành trung tâm du lịch hàng đầu của miền Trung.