MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển kinh tế nhƣ: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con ngƣời,… Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con ngƣời là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trƣởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trƣớc đến nay. Một nƣớc cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại đến đâu nhƣng không có những con ngƣời có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt đƣợc sự phát triển nhƣ mong muốn. Lực lƣợng lao động, hay nguồn nhân lực là dân số trong độ tuổi lao động thực tế có việc làm và những ngƣời thất nghiệp.
Nhân lực là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con ngƣời hiện có thực tế, là tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng. Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động con ngƣời của một quốc gia đã đƣợc chuẩn bị ở một mức độ nhất định, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nƣớc. Tiềm năng đó bao hàm tổng hoà các năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách con ngƣời của một quốc gia đáp ứng với một cơ cấu nhất định của lao động do nền kinh tế đòi hỏi. Năng lực về nhân cách liên quan đến truyền thống lịch sử và nền văn hoá của từng quốc gia, nó đƣợc kết tinh trong mỗi con ngƣời và cộng đồng, tạo nên bản lĩnh và tính cách đặc trƣng của con ngƣời lao động trong quốc gia đó.
Lao động là nguồn lực quan trọng nhất của quá trình phát triển kinh tế, đó là đầu vào không thể thiếu của bất kỳ một quá trình sản xuất nào. Mặt khác, lao động là một bộ phận của dân số, và do đó lao động cũng là nguồn lực chính thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Vai trò của lao động với tăng trƣởng kinh tế thể hiện trên các tiêu chuẩn về số lƣợng lao động, năng lực công tác, trình độ chuyên môn, sức khoẻ ngƣời lao động và các kỹ năng mềm 2 kết hợp giữa lao động và các nhân tố đầu vào khác. Các tiêu chuẩn về năng lực, kỹ năng nói trên là thƣớc đo cho tiền công mà ngƣời lao động nhận đƣợc.
Khi tiền công của ngƣời lao động tăng có nghĩa chi phí sản xuất tăng, phản ánh khả năng sản xuất tăng lên. Đồng thời khi mức tiền công tăng làm cho thu nhập có thể sử dụng của ngƣời lao động cũng tăng, do đó khả năng chi tiêu của ngƣời tiêu dùng tăng. Ở các nƣớc đang phát triển, mức tiền công của ngƣời lao động nói chung là thấp, do đó ở những nƣớc này lao động chƣa phải là động lực mạnh cho sự phát triển. Trong điều kiện xã hội phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng nhƣ hiện nay, nhu cầu con ngƣời đòi hỏi ngày càng đòi hỏi cao hơn với tiêu chí là giá cả không những giảm xuống, chất lƣợng sản phẩm không ngừng đƣợc cải tiến.
Nên các doanh nghiệp muốn tồn tại phải chú trọng đến việc cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao hàm lƣợng chất xám có trong một sản phẩm nhằm tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm nhƣng phải đảm bảo chất lƣợng. Làm đƣợc điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có một đội ngũ nhân viên năng động luôn bám sát nhu cầu thị hiếu của khách hàng, kịp thời đáp ứng nhanh nhất sự thay đổi đó. Hiện nay, Sở khoa học và công nghê tỉnh Sêkong có 24 lãnh đạo cấp trung và 12 lãnh đạo cấp cao, năng lực lãnh đạo của các nhà lãnh đạo cấp cao có phần cao hơn các nhà lãnh đạo cấp trung, cụ thể, các nhà lãnh đạo cấp cao kinh nghiệm công việc bình quân trên 10 năm/ngƣời và kinh nghiệm lãnh đạo bình quân ít nhất 5 năm/ngƣời; trong khi đó, các nhà lãnh đạo cấp trung kinh nghiệm công việc bình quân trên 5 năm/ngƣời và kinh nghiệm lãnh đạo bình quân ít nhất 3 năm/ngƣời. Hầu hết các nhà lãnh đạo tại Sở khoa học và công nghê tỉnh Sêkong đều chú trọng đến công tác phát triển nguồn nhân lực tại Sở.
Với tổng số lao động đang công tác tại Sở khoa học và công nghê tỉnh Sêkong tính đến cuối năm 2019 là 121 ngƣời, có 117 lao động chính thức và 4 3 ngƣời lao động phi chính thức; các công tác quản trị nguồn nhân lực của Sở vẫn luôn đƣợc thực hiện định kỳ vào mỗi quý, kết thúc vào cuối mỗi năm luôn có các báo cáo đánh giá kết quả công việc. Thêm vào đó, công tác quản trị nguồn nhân lực của Sở luôn chú trọng đến việc đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện việc lên kế hoạch và bám sát các kế hoạch công việc để theo dõi các công việc đƣợc giao. Chính vì vậy, trong những năm 2017 đến 2019, tỷ lệ nhân viên hoàn thành tốt nhiệm vụ và đạt danh hiệu lao động tiên tiến của Sở khoa học và công nghê tỉnh Sêkong bình quân đạt 90%, trong khi đó các Sở còn lại trên địa bàn tỉnh chỉ đạt bình quân 82%/Sở. Từ thực tiễn quá trình công tác của mình, trong môi trƣờng làm việc hành chính Nhà nƣớc, tác giả nhận thấy nguồn nhân lực tại mỗi đơn vị nói chung và tại Sở khoa học và công nghê tỉnh Sêkong là nguồn lực đóng góp tích cực và chủ yếu vào việc phát triển của tổ chức.
Vì thế, tác giả đã chọn đề tài “Phát triển nguồn nhân lực tại Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Sêkong, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” với mục đích phân tích thực trạng và đánh giá các nhân tố liên quan đến việc phát triển nguồn nhân lực tại Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Sêkong, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào là điều rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong giai đoạn hiện nay, nhằm giúp Sở khoa học và công nghê tỉnh Sêkong có phƣơng hƣớng nâng cao việc phát triển nguồn nhân lực tại Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Sêkong, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào tốt hơn. Xuất phát từ những vấn đề cần thiết nhƣ trên, đề tài này thực sự có ý nghĩa thực tế to lớn và đáng nghiên cứu. Tác giả tin rằng với đề tài nghiên cứu của mình, tác giả sẽ đóng góp một phần không nhỏ trong việc cung cấp thực tiễn về thực trạng và các nhân tố liên quan đến việc phát triển nguồn nhân lực tại Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Sêkong, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, thêm vào đó kết quả nghiên cứu cũng sẽ tạo ra những điểm khác biệt so với các nghiên cứu trƣớc 4 đây về đối tƣợng nghiên cứu, thời gian và địa điểm nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung: Đề tài tiến hành tổng hợp các lý thuyết liên quan đến phát triển nguồn nhân lực, các tiêu chí đánh giá phát triển nguồn nhân lực.
Trên cơ sở đó, đề tài tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Sêkong, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và rút ra các kết quả đạt đƣợc cũng nhƣ những hạn chế còn tồn tại trong công tác phát triển nguồn nhân lực để từ đó đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Sêkong, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong thời gian tới tốt hơn. Các mục tiêu cụ thể của đề tài như sau: - Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức. - Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Sêkong, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong thời gian qua. - Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực tại Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Sêkong, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu là các vấn đề liên quan đến công tác phát triển nguồn nhân lực tại Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Sêkong, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Phạm vi nghiên cứu Về không gian: Đề tài đƣợc triển khai nghiên cứu tại Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Sêkong, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Về thời gian: Phân tích đánh giá thực trạng qua 3 năm 2017 – 2019, các 5 giải pháp đƣợc đề xuất cho giai đoạn 2020 – 2025.
Số liệu sơ cấp đƣợc điều tra khảo sát trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 11 năm 2020. Phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu đƣợc thực hiện qua 2 bƣớc gồm nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu định lƣợng, cụ thể nhƣ sau: 4. Nghiên cứu sơ bộ: Đây đƣợc xem là nghiên cứu nền tảng và là điều cần thiết trƣớc khi đi vào nghiên cứu chính thức hay còn gọi là nghiên cứu định lƣợng. Nghiên cứu sơ bộ nhằm hiệu chỉnh và bổ sung thêm các thang đo, nhân tố mới trong việc phân tích và đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực thông qua việc thảo luận nhóm với 10 cán bộ quản lý trong lĩnh vực mà tác giả đang thực hiện nghiên cứu, việc này đƣợc thực hiện dựa trên nền tảng lý thuyết và các nghiên cứu đi trƣớc có liên quan đến chủ đề mà tác giả nghiên cứu.
Nghiên cứu chính thức: Bao gồm các phép phân tích cụ thể nhƣ sau. Phương pháp thu thập số liệu, chọn mẫu, điều tra Đối với nguồn số liệu thứ cấp Nguồn thông tin, số liệu thứ cấp phục vụ nghiên cứu đề tài đƣợc thu thập qua việc tham khảo các loại tài liệu nhƣ sách, báo, các báo cáo liên quan đến công tác phát triển nguồn nhân lực của tổ chức; các tài liệu, báo cáo đã đƣợc công bố tại website của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Sêkong, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; Từ các nguồn giáo trình, tài liệu tham khảo, các nghiên cứu có liên quan đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực tại các tổ chức đƣợc công bố trên Internet. Đối với nguồn số liệu sơ cấp Số liệu sơ cấp đƣợc đƣợc thu thập thông qua điều tra, phỏng vấn trực tiếp ngƣời lao động tại Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Sêkong, Cộng hòa 6 dân chủ nhân dân Lào về các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu. Nội dung điều tra đƣợc cụ thể hóa thành những câu hỏi và phƣơng án trả lời trong phiếu điều tra theo 5 cấp độ khác nhau.