CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ DẠY NGHỀ PHỔ THÔNG Ở TRUNG TÂM KỸ THUẬT TỔNG HỢP –HƯỚNG NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nghề Khái niệm nghề theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định. Cho đến nay thuật ngữ “nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Dưới đây là một số khái niệm về nghề. + Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa: “Là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn”. + Khái niệm nghề ở Pháp: “Là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống ”. + Khái niệm nghề ở Anh được định nghĩa: “Là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học học nghệ thuật”.
+ Khái niệm nghề ở Đức được định nghĩa: “Là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó”. Như vậy nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặt với sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật, và văn minh nhân loại. Bởi vậy được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau + Ở Việt Nam, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra song chưa được thống nhất, chẳng hạn theo tác giả Thái Thế Hùng thì Nghề có định nghĩa như sau: “Nghề là yếu tố kỹ năng kết hợp với sức lao động tạo ra thu nhập hợp pháp; Công việc chuyên môn làm theo sự phân công lao động xã hội”[24]. Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta có thể nhận thấy một số nét đặc trưng nhất định sau: - Đó là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi lặp lại.
- Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội. 11 - Là phương tiện để sinh sống. - Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định. Hiện nay xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của tác động khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại nói chung và về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia nói riêng.
Bởi vậy phạm trù “Nghề” biến đổi mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vi vậy ta có thể định nghĩa Nghề như sau: Nghề là một loại hình lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó có thể trao đổi được, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội. Hay: Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. Nghề phổ thông Thuật ngữ nghề phổ thông là khái niệm mới dùng để chỉ việc dạy nghề trong nhà trường phổ thông.
Nghề phổ thông dùng theo một quy ước thể hiện mục đích, mức độ, nội dung, phương pháp dạy nghề cho học sinh và khả năng thực hiện của nhà trường. Nghề phổ thông được định nghĩa như sau: Nghề phổ thông là những nghề thông dụng phổ biến, có mức độ kỹ thuật tương đối đơn giản; tổ chức dạy học không phức tạp về trang thiết bị và quy trình triển khai; nguyên vật liệu và phôi dễ kiếm, dễ tạo, rẻ tiền; thời gian học nghề ngắn, chi phí đào tạo ít. Qua định nghĩa về nghề phổ thông ta thấy: - Nghề phổ thông là những nghề phổ biến, thông dụng đang cần phát triển ở địa phương. Nắm được nghề này, học sinh có thể tự tạo việc làm, để được sử dụng trong các thành phần kinh tế tại chỗ của cộng đồng dân cư.
- Những nghề ấy có kỹ thuật tương đối đơn giản, quá trình dạy nghề không đòi hỏi phải có những trang thiết bị phức tạp. 12 - Nguyên liệu dùng trong việc dạy nghề dễ kiếm phù hợp với điều kiện kinh tế, khả năng đầu tư ở địa phương. - Thời gian học nghề thường ngắn (khoảng trên dưới 100 tiết) kế hoạch dạy học của cấp THCS, THPT có thể giải quyết được số tiết lý thuyết và thực hành để nắm được trình độ tối thiểu của nghề. Hiện nay do không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao các yêu cầu của nền kinh tế thị trường, phục vụ cho sự mở cửa về kinh tế.
Nghề phổ thông còn là những nghề kỹ thuật không chỉ hạn chế ở các ngành nghề truyền thống, mở rộng các ngành nghề đ ào tạo, các hình thức dịch vụ, nông lâm nghiệp, điện tử, tin học. Vì vậy cũng không hạn chế việc dạy những nghề phức tạp ở những nơi có điều kiện thực hiện. Với ý nghĩa đó, nghề phổ thông có tính phổ biến cao, điều kiện dạy nghề không quá khó khăn, thời gian đòi hỏi không nhiều. Trong nhà trường phổ thông, dạy nghề cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và chuẩn bị tích cực cho thế hệ trẻ bước vào cuộc sống, việc dạy nghề phải là một bộ phận của giáo dục phổ thông.
Vì vậy dạy nghề cho học sinh là vấn đề dạy kiến thức, rèn luyện kỹ năng lao động, hướng nghiệp góp phần nâng cao dân trí và có ý nghĩa chuẩn bị nguồn nhân lực cho đất nước. Dạy nghề phổ thông Dạy nghề phổ thông là một khái niệm chỉ việc dạy nghề trong nhà trường phổ thông khác với đào tạo nghề chính quy tại trường nghề. Đây là những nghề có tính chất phổ biến, tính chất nghề và thực hành nghề ít phức tạp, thiết bị không quá tốn kém, thời gian học không lâu, quá trình học nghề có thể vận dụng khoa học kỹ thuật công nghệ mới. Dạy nghề phổ thông mang tính thực hành cao và thực hành đến từng học sinh.
Đây là điểm khác biệt trong dạy nghề so với dạy các môn văn hoá. Trong quá trình dạy nghề phổ thông giáo viên vừa là người thầy truyền thụ tri thức, kỹ thuật vừa là thợ hướng dẫn, uốn nắn chỉnh sửa các thao tác của học sinh và giới thiệu cấu tạo, chức năng, công dụng của từng máy móc, thiết bị, kỹ thuật, vật liệu cho người học. 13 Giáo viên là người cung cấp cho học sinh những kiến thức và k ỹ thuật cần thiết của một nghề. Để học sinh hiểu được cơ sở khoa học về vật liệu, công cụ, quy trình công nghệ, tổ chức quản lý sản xuất… dễ dàng thích ứng với sự dịch chuyển lao động trong sản xuất và đào tạo nghề mới.
Học sinh được rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp như kỹ năng sử dụng công cụ gia công, gia công vật liệu, thao tác các kỹ thuật, lập kế hoạch tính toán, thiết kế và khả năng vận dụng trong thực tiễn. Đó là những cơ sở ban đầu để hình thành kỹ năng nghề nghiệp, phát huy sáng tạo h ình thành thói quen lao động tư duy. Do sự phát triển của nền kinh tế - xã hội đòi hỏi lực lượng lao động mới phải có khả năng đáp ứng yêu cầu của cuộc sống để kết hợp được 3 mặt giáo dục, từ năm 1991, nhà trường phổ thông đã tiến hành dạy nghề cho học sinh cuối cấp THCS (lớp 8,9) và học sinh THPT (lớp 11,12). Do vậy dạy nghề phổ thông thực hiện một cách có hiệu quả nguyên lý giáo dục của Đảng: Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội.
Cơ sở lý luận quản lý dạy nghề phổ thông ở Trung tâm kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp 1. Khái niệm về quản lý Từ khi con người biết hợp sức với nhau để tự vệ hoặc lao động để kiếm sống thì bên cạnh lao động chung của mọi người đã xuất hiện như một yếu tố khách quan, những hoạt động tổ chức phối hợp điều khiển hoạt động của mọi người thực hiện mục tiêu chung đã định. Về vấn đề này K. Marx đã viết: “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân… Một nhạc sỹ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”.
Marx thì “Quản lý là lao động điều khiển lao động”. Marx đã coi việc xuất hiện quản lý như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại.[19] Ta có thể hiểu lao động xã hội và quản lý không tách rời nhau, quản lý lao động điều khiển lao động chung. Khi lao động xã hội đạt tới một quy mô phát triển 14 nhất định thì sự phân công lao động tất yếu sẽ dẫn đến việc tách quản lý thành một chức năng riêng biệt. Từ đó trong xã hội hình thành một bộ phận trực tiếp sản xuất, một bộ phận khác chuyên quản lý và mối quan hệ giữa hai bộ phận này chính là mỗi quan hệ quản lý.
Như vậy lao động xã hội gắn liền với quản lý, quản lý là một hoạt động lao động đặc biệt, điều khiển lao động chung khi xã hội có sự phân công lao động. Xã hội càng phát triển, các loại hình lao động càng phong phú, đa dạng, phức tạp, thì hoạt động quản lý càng đóng vai trò quan trọng và quyết định. Trong tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội đều có sự tham gia của hoạt động quản lý, như: Quản lý nhà nước, quản lý doanh nghiệp, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường. Mỗi lĩnh vực quản lý tuy có đặc thù riêng, song nó đều có những nét cơ bản, đặc trưng chung của cả hoạt động quản lý và chính hoạt động quản lý luôn góp phần quyết định vào nâng cao chất lượng, hiệu quả của từng tổ chức, của từng con người, đảm bảo trật tự kỷ cương xã hội và là nhân tố tất yếu của sự phát triển xã hội.
Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý. Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.