phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học của học viên học văn hóa tại các Trung tâm GDNN - GDTX Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của học viên học văn hóa tại các Trung tâm GDNN - GDTX trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên học văn hóa tại các Trung tâm GDNN - GDTX trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC VIÊN HỌC VĂN HÓA TẠI CÁC TRUNG TÂM GDNN - GDTX 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.
Các nghiên cứu ở nước ngoài Tự học đã đƣợc con ngƣời thực hiện từ rất sớm, ngay từ khi giáo dục chƣa trở thành một nghành khoa học thực sự. Ở thời kỳ đó, ngƣời ta đã biết quan tâm đến việc làm sao cho ngƣời học chăm chỉ, tích cực ghi nhớ đƣợc những giáo huấn của thầy và hành động theo những điều ghi nhớ đó. Trong từng giai đoạn phát triển, vấn đề tự học đƣợc đề cập và nghiên cứu dƣới nhiều khía cạnh khác nhau và đã đƣợc nhiều học giả nghiên cứu. Ngay từ thời Trung Hoa cổ đại, nhà giáo dục lỗi lạc Khổng Tử (551-479 Tr.CN) đã sớm đề cập đến vai trò chủ động, tích cực suy nghkĩ của ngƣời học.
Ông cho rằng: "Học mà không suy nghĩ sẽ chẳng có thu hoạch gì, chỉ suy nghĩ mà không học thì sẽ rất nguy hiểm". Theo ông ngƣời học không những phải chủ động tích cực học tập, mà phải học ở mọi nơi mọi lúc, học bất cứ ai, học bất cứ nơi nào, lúc nào, trong ba ngƣời đồng hành tất phải có một ngƣời là thầy ta. Khổng Tử còn yêu cầu môn sinh: bác học, thâm vấn, thận tƣ, minh biện, đốc hành (học cho rộng, hỏi cho sâu/ kỹ, suy nghkĩ cho cẩn thận, phân biệt cho rõ ràng, làm cho hết sức). Ông còn nhấn mạnh: “Người ta dùng công mười mà được, ta cũng dùng công mười mà chưa được thì dùng công gấp ngàn lần kỳ được mới thôi.
Nếu làm được theo điều ấy thì đầu ngu cũng hoá sáng, yếu cũng thành mạnh”. Khổng Tử cho rằng, thầy giáo chỉ giúp học trò cái mấu chốt nhất, còn mọi vấn đề khác học trò phải từ đó mà tự tìm ra, thầy không đƣợc làm thay tất cả cho trò. Ông đòi hỏi ngƣời học phải biết suy nghkĩ, phải biết phát huy tính năng động, tích cực của bản thân trong học tập. Thời kỳ Phục Hƣng nhà văn Montaigne (1533-1592) từng khuyên rằng: “Tốt hơn là ông thầy để cho học trò tự học, tự đi lên phía trước, nhận xét bước đi của họ, đồng thời giảm bớt tốc độ của thầy cho phù hợp với sức học của trò”.
Các nhà giáo dục thời kỳ này đã khẳng định vai trò tiềm năng to lớn của hoạt động tự học trong giáo dục. Đặc biệt, nhiều tác giả còn nghiên cứu sâu sắc cách thức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của ngƣời học , trong đó nêu lên những biện pháp tổ chức hoạt động độc lập nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học. Đến thế kỷ XVII, các nhà giáo dục nhƣ: J.Disterweg (1790-1866) trong các công trình nghiên cứu của mình đều rất quan tâm đến sự phát triển trí tuệ 6 tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh và nhấn mạnh phải khuyến khích ngƣời đọc giành lấy trí thức bằng con đƣờng tự khám phá, tìm tòi và suy nghkĩ trong quá trình học tập. Trên cơ sở phát triển mạnh mẽ của tâm lý học hành vi, tâm lý học phát sinh, nhiều Phƣơng pháp dạy học mới ra đời: “phƣơng pháp lạc quan”, “phƣơng pháp trọng tâm tri thức”, “phƣơng pháp montessori”…Các phƣơng pháp dạy học này đã khẳng định vai trò quyết định của học sinh trong học tập nhƣng quá coi trọng “con ngƣời cá thể” nên đã hạ thấp vai trò của ngƣời giáo viên đồng thời phức tạp hóa quá trình dạy học.
Mặt khác, những phƣơng pháp này đòi hỏi các điều kiện rất cao kể cả từ phía ngƣời học lẫn các điều kiện giảng dạy nên khó có thể triển khai rộng rãi đƣợc. Từ nửa thế kỷ XX, trên cơ sở kế thừa có phê phán các tƣ tƣởng của các nhà giáo dục đi trƣớc, ở các nƣớc phƣơng Tây nổi lên cuộc các mạng tìm kiếm các hình thức tổ chức dạy học và các phƣơng pháp giáo dục mới, trong đó một trong xu hƣớng ƣu tiên hàng đầu là nghiên cứu phát triển hoạt động tự học và dạy các kĩ năng tự học cho học sinh. Tiêu biểu cho tƣ tƣởng này là John Dewey (1859 -1952), ngƣời đề xuất quan điểm dạy học phải dựa trên sự phát huy năng lực nội sinh của con ngƣời và do đó, dạy học phải “lấy ngƣời học làm trung tâm”. Ông đã phát biểu: “Học sinh là mặt trời, xung quanh có quy tụ mọi phƣơng pháp giáo dục”.
Những thập kỷ tiếp sau đó, một loạt nghiên cứu đề xuất các phƣơng pháp dạy học theo quan điểm tiến bộ này đã đƣợc đƣa vào thực nghiệm và thực tế dạy học: “phƣơng pháp tích cực”, “phƣơng pháp hợp tác’’, “phƣơng pháp cá thể hóa”. Nói chung đây là các phƣơng pháp mà trong đó, ngƣời học lĩnh hội kiến thức không chỉ bằng nghe thầy giảng bài, mà còn phải bằng hoạt động tự học tự tìm tòi lĩnh hội tri thức. Trên bình diện nghiên cứu, cũng nhƣ trên thực tế giáo dục các cấp học ở nƣớc ngoài, bên cạnh vai trò của ngƣời thầy làm đạo diễn, thiết kế, tổ chức giúp cho ngƣời học biết cách làm, cách học, vai trò tự học chủ động, tích cực của ngƣời vẫn luôn là nguyên tắc giáo dục ƣu tiên hàng đầu và luôn đƣợc sự quan tâm của các nhà giáo dục. Bởi vì tự học có vai trò quan trọng, quyết định mọi sự thành công của ngƣời học trong học tập và là điều kiện đảm bảo cho chất lƣợng, hiệu quả của giáo dục và đào tạo.
Có thể nói, cho đến nay các nghiên cứu đã làm rõ và khẳng định đƣợc vai trò của hoạt động tự học, tự nghiên cứu tìm tòi của bản thân ngƣời học là cơ sở cho mọi sự thành công trong học tập. Các nghiên cứu trong nước Vấn đề tự học ở Việt Nam cũng đƣợc chú ý từ lâu, ngay từ thời kỳ phong kiến, giáo dục chƣa phát triển nhƣng đất nƣớc vẫn có nhiều nhân tài kiệt xuất. Những nhân tài đó, bên cạnh yếu tố đƣợc những ông đồ tài giỏi dạy dỗ, thì yếu tố quyết định 7 đều là tự học của bản thân. Cũng chính vì vậy mà ngƣời ta coi trọng việc tự học, nêu cao những tấm gƣơng tự học thành tài.
Nhƣng nhìn chung, lối giáo dục còn rất hạn chế “ngƣời học tìm thấy sự bắt chƣớc, đúng mà không cần độc đáo, ngƣời học học thuộc lòng …” Đến thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, mặc dù nền giáo dục Âu Mỹ rất phát triển nhƣng nền giáo dục nƣớc ta vẫn chậm đổi mới. Vấn đề tự học không đƣợc nghiên cứu và phổ biến, song thực tiễn lại xuất hiện nhu cầu tự học rất cao trong nhiều tầng lớp xã hội. Vấn đề tự học thực sự đƣợc phát động nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi từ khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945), mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là ngƣời khởi xƣớng vừa nêu tấm gƣơng về tinh thần và phƣơng pháp dạy học. Ngƣời từng nói: “còn sống thì còn phải học”, và cho rằng: “về cách học phải lấy tự học làm cốt”.
Có thể nói tự học là một tƣ tƣởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, về phƣơng pháp học tập. Những lời chỉ dẫn quý báu và những bài học kinh ngiệm sâu sắc rút ra từ chính tấm gƣơng tự học bền bỉ và thành công của Ngƣời cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một ngƣời rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo con ngƣời. Cùng với thắng lợi vkĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, ngƣời đã khai sinh nền giáo dục mới, tiến bộ - một nền giáo dục dân tộc, khoa học, dân chủ.
Trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn của buổi đầu mới giành độc lập, giữa lúc kinh tế kiệt quệ, nạn đói hoành hành, thù trong giặc ngoài ra sức chống phá để tiêu diệt cách mạng, Ngƣời kêu gọi toàn dân ra sức thực hiện đồng thời 3 nhiệm vụ vô cùng trọng đại và cấp bách là “diệt giặt đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”. Ngƣời đề xƣớng và lãnh đạo nhân dân thực hiện hàng loạt chủ trƣơng to lớn đúng đắn và sáng suốt nhƣ phổ cập giáo dục, từng bƣớc nâng cao trình độ học vấn phổ thông. “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt”. Bác đã khẳng định trong thƣ gửi cho các GV năm 1946: “Kể từ nay chúng ta xây dựng một nền giáo dục của Việt Nam, cho ngƣời Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển tiềm năng vốn có trong lòng HV”.
Bác luôn khuyên các Thầy Cô giáo khi dạy học phải căn cứ vào đặc điểm của từng đối tƣợng, tôn trọng đặc điểm ngƣời học. Ngƣời nói: “Vì đặc điểm ngƣời học không đồng đều nhau, cần có tài liệu thích hợp cho từng hạng”, “Bài giảng cần chuẩn bị tốt và cần chọn những bài thích hợp cho HV”. Tại Hội thảo“Giáo dục đạo đức cho học sinh, học viên ở nước ta hiện nay – Thực trạng và giải pháp” do Hội Khoa học tâm lý – Giáo dục Việt Nam tổ chức tại Đồng Nai năm 2009, Phạm Minh Hạc (2009) đã phát biểu: Yếu tố quyết định là ý thức tự giáo dục thực sự nghiêm khắc – sự phấn đấu hƣớng thiện của từng cá nhân, nhất là của học sinh các lớp cuối cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông và học viên,…kết hợp chặt chẽ giáo dục đạo đức trong trung tâm với gia đình và ngoài xã 8 hội, GDĐĐ cho tuổi trẻ, đặc biệt là học sinh, học viên đã và đang trở thành nhiệm vụ cấp bách, nhiệm vụ hàng đầu của các gia đình, trung tâm và toàn xã hội”. Bài phát biểu này của Phạm Minh Hạc cũng đã nhấn mạnh việc giáo dục đạo đức cho học sinh, học viên trong đó có học sinh trƣờng THPT là một vấn đề nổi cộm và cấp thiết trong xã hội hiện nay.
Hơn nửa thế kỷ qua, tƣ tƣởng giáo dục của Ngƣời đã trở thành tƣ tƣởng và lý luận cho đƣờng lối chính sách giáo dục đã và đang tiến hành ở nƣớc ta.