Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN, HỖ TRỢ SINH VIÊN Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu trên thế giới Năm 2000, Higher Education Research Institute University of California, Los Angeles (tạm dịch là: Viện nghiên cứu quản lý giáo dục thuộc Đại học California, Los Angeles) đã công bố tài liệu nghiên cứu: How Service Learning Affects Students (tạm dịch là: Dịch vụ học tập ảnh hưởng như thế nào đến SV) nghiên cứu từ năm 1994 và thu thập dữ liệu từ 22. Các tác giả đã nêu hai mục tiêu chính của nghiên cứu này là: 1.
Khám phá những tác động so sánh của dịch vụ học tập và dịch vụ cộng đồng đối với sự phát triển nhận thức và tình cảm của SV chưa tốt nghiệp đại học và 2. Nâng cao hiểu biết của chúng ta về cách học tập được nâng cao nhờ dịch vụ. Trong đó, một phần của nghiên cứu chỉ ra sự cần thiết tồn tại của một đầu mối hỗ trợ học tập cho SV trong các trường. Astin et al.
Bài viết Student Support Services at Community Colleges: A Strategy for Increasing Student Persistence and Attainment (tạm dịch là: Dịch vụ hỗ trợ sinh viên tại các trường cao đẳng cộng đồng: Chiến lược tăng cường sự kiên trì và thành tích của sinh viên). Bài viết được tác giả nhận định: Mọi người ngày càng chú ý đến các dịch vụ, chức năng và kết quả của các trường cao đẳng cộng đồng, đặc biệt khi chúng ảnh hưởng đến sự kiên trì và hoàn thành của SV. Một chiến lược để tăng tính kiên trì và kết quả thành tích của SV nằm trong lĩnh vực dịch vụ hỗ trợ SV. Những loại dịch vụ này là một tính năng tiêu chuẩn tại hầu hết các tổ chức giáo dục đại học.
Một nhóm nghiên cứu gợi ý rằng các dịch vụ hỗ trợ SV đóng một vai trò trong việc thúc đẩy kết quả thành công cho sinh viên đại học cao, đẳng. Bài viết này xem xét nghiên cứu hiện tại về các dịch vụ sinh viên trong môi trường đại học cộng đồng, các chương trình mẫu và các phương pháp đề xuất để cải thiện các dịch vụ này (Michelle Cooper, 2010) Tác giả Mehran Farajollahia, Mahdi Moenikia (2010) có bài viết The study of relation between students support services and distance students’ academic achievement (tạm dịch là: Nghiên cứu về mối quan hệ giữa các dịch vụ hỗ trợ sinh viên và thành tích học tập của sinh viên từ xa). Nghiên cứu này điều tra mối quan hệ giữa các dịch vụ hỗ trợ SV và thành phần của nó với thành tích học tập trong giáo dục từ xa. Dân số của nghiên 7 cứu này bao gồm các SV của Đại học Payame Noor tỉnh Tehran trong năm học 2008- 2009.
1098 người tham gia được chọn từ dân số dựa trên bản in thông qua lấy mẫu cụm và 172 người tham gia được chọn từ dân số dựa trên web thông qua lấy mẫu ngẫu nhiên theo tỷ lệ dân số kéo. Dữ liệu được tích lũy bởi 52 bảng câu hỏi tỷ lệ (Į = 0,93). Phương pháp nghiên cứu là tương quan. Phân tích dữ liệu thu thập được thông qua tương quan Pearson cho thấy: mối quan hệ giữa các dịch vụ hỗ trợ SV và các thành phần của nó với thành tích học tập là có ý nghĩa thống kê, có thể kết luận rằng tầm quan trọng của các dịch vụ tổng hợp, dịch vụ chính thức, dịch vụ gia sư trong thành tích học tập khá hợp lý (Mehran Farajollahia and Mahdi Moenikia, 2010).
Trong nghiên cứu Education Quality Process Model and Its Influence on Students’ Perceived Service Quality (tạm dịch là: Mô hình quy trình chất lượng giáo dục và ảnh hưởng của nó đối với chất lượng dịch vụ mà sinh viên cảm nhận) được các tác giả Choon Ling Kwek, Teck Chai Lau & Hoi Piew Tan (2010) cho rằng: Chất lượng dịch vụ đã trở thành một chủ đề quan trọng trong tài liệu tiếp thị dịch vụ vì nó ảnh hưởng đến chi phí, lợi nhuận, sự hài lòng và giữ chân khách hàng (Buzzell & Gale, trích dẫn trong Buttle, 1996; Bolton & Drew, 1991; Reichheld & Sasser, 1990). Như vậy, điều cốt yếu là xác định các yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ mà SV cảm nhận được trong giáo dục đại học. Mục đích của nghiên cứu này là điều tra các yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ mà SV cảm nhận đối với một cơ sở giáo dục đại học tư thục ở Malaysia, dựa trên mô hình quy trình chất lượng giáo dục. Tổng cộng có 458 SV đại học kinh doanh từ một trường đại học tư thục ở Malaysia đã tham gia vào nghiên cứu này.
Nghiên cứu cho thấy rằng chất lượng của CB thư viện, khả năng đáp ứng của nhân viên từ Ban Khảo thí và các giải thưởng, chương trình giảng dạy, số lượng hoạt động giải trí và mô hình quy trình của chất lượng giáo dục có liên quan tích cực đến chất lượng dịch vụ mà SV cảm nhận (Choon Ling Kwek et al., 2010) Theo tác giả Sukhdeep Kaur (2016) trong bài nghiên cứu Student Support Services in Higher Education: A Student Perspective (tạm dịch là: Dịch vụ hỗ trợ sinh viên trong giáo dục đại học: Quan điểm của sinh viên). Trong bài viết tác giả đề cập rằng: Ngày nay nhiều chính sách khác nhau đã được xây dựng theo thời gian để nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Nhưng các nhà hoạch định chính sách thường bỏ sót yếu tố then chốt của giáo dục đại học, đó là SV. Cung cấp hỗ trợ cho SV bao gồm hỗ trợ xã hội và tình cảm cùng với hỗ trợ học tập mang lại nhận thức cho SV và có thể giúp ích rất nhiều trong việc 8 nâng cao chất lượng giáo dục đại học.
Nghiên cứu hiện tại đã được thực hiện để đánh giá các dịch vụ hỗ trợ SV do chính quyền cung cấp để cải thiện cá nhân cũng như cải thiện hoạt động của tổ chức. Đa số SV không hài lòng với hệ thống hỗ trợ được cung cấp cho họ trong các cơ sở giáo dục đại học. Học sinh đòi hỏi phải thường xuyên sửa đổi chương trình học theo nhu cầu thay đổi của xã hội, yêu cầu kiến thức đi đôi với kỹ năng, bổ sung sách trong thư viện và hệ thống hỗ trợ tốt cho học sinh khuyết tật (Sukhdeep Kaur, 2016). Trong bài báo “Các chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ góc nhìn quốc tế: Một bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” đăng tạp chí Khoa học giáo dục Việt Nam, số 45, tháng 9 năm 2021, của bốn tác giả Bùi Thị Diển, Nguyễn Thị Chi, Đoàn Thúy Hạnh, Nguyễn Việt Hà (2021).
Trong bài viết có đề cập tại Australia: sự quan tâm và hỗ trợ cho SV là một phần quan trọng trong hệ hống giáo dục ở nước này. Australia có môi trường sống an toàn, thanh bình, người dân thân thiện dễ gần, học phí và sinh hoạt phí rẻ hơn một số nước phát triển ở châu Âu và Mỹ, quá trình xin visa nhanh chóng và thuận tiện. SV các nước có cơ hội trải nghiệm nghề nghiệp, cơ hội nghiên cứu, tiếp xúc với hạ tầng hiện đại. Australia là nước dẫn đầu trong việc bảo vệ và hỗ trợ các dịch vụ dành cho SV như học Anh ngữ, trợ giúp việc nộp đơn và các thủ tục khác, tiếp đón và hướng dẫn trong quá trình học tập, các dịch vụ y tế, cư trú và sinh hoạt.
Các cơ sở giáo dục của Australia rất lưu tâm đến các nhu cầu văn hóa và tôn giáo. Các cơ sở này cung cấp một số dịch vụ theo dõi và hỗ trợ nhằm giúp đỡ SV hội nhập vào môi trường mới để hoàn thành việc học tập (Bùi Thị Diển và cs. Nhìn chung các nghiên cứu nước ngoài đã nêu ra: Các dịch vụ hỗ trợ đã ảnh hưởng như thế nào đến người học; Các chương trình, chính sách nhằm phát triển nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ SV; Mối quan hệ giữa dịch vụ hỗ trợ và thành tích học tập của SV; Chất lượng dịch vụ hỗ trợ ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng giáo dục; Quan điểm của SV về các dịch vụ được hỗ trợ,.để giải quyết các mối quan hệ giữa: người dạy - người học - tri thức khoa học - môi trường học tập và các mối quan hệ với cộng đồng nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục. Đây là điều rất cần thiết trong xu hướng đổi mới giáo dục hiện nay và cũng chính là mục tiêu để đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, GV, phát triển hoạt động tư vấn, hỗ trợ sinh viên ở trường Cao đẳng Nghề.
Những nghiên cứu ở Việt Nam Trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp hiện nay, mục tiêu cơ bản là đào tạo đội ngũ 9 người lao động có kiến thức chuyên môn, có tay nghề nhằm đóng góp cho xã hội nguồn lao động có chất lượng cao. Tuy nhiên trước bối cảnh xã hội ngày nay có nhiều sự thay đổi, biến động, người học phải đối mặt với nhiều khó khăn trong cuộc sống và học tập. Do đó cơ sở giáo dục nghề nghiệp ngoài việc chú trọng đào tạo còn đặc biệt quan tâm đến công tác học sinh, sinh viên và đặc biệt là hoạt động tư vấn, hỗ trợ. Làm tốt công tác hỗ trợ, tư vấn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng chuyên môn, tạo ra môi trường giáo dục tích cực cho việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, nhân cách và tác phong, lối sống cho SV.
Có thể kể đến một số nghiên cứu và văn bản pháp lý về hoạt động tư vấn, hỗ trợ sinh viên sau đây: Luận văn Thạc sĩ của tác giả Phạm Tùng Lâm với đề tài “Phát triển dịch vụ hỗ trợ sinh viên ở trường đại học công lập trên địa bàn TP. Tác giả nhấn mạnh: Hiện nay, giáo dục được nhìn nhận là một loại hình dịch vụ mà sinh viên chính là khách hàng mục tiêu. Do đó, ngoài việc nâng cao chất lượng đào tạo thì mỗi trường đại học cần có sự quan tâm nhiều hơn đến các dịch vụ hỗ trợ những nhu cầu liên quan đến đời sống của SV. Theo số liệu thống kê của Bộ giáo dục, năm 2012 cả nước có hơn 1,2 triệu SV theo học tại 153 trường đại học công lập trên cả nước, điều này cho thấy nhu cầu học tập và sinh hoạt của riêng SV học tại các trường công lập là rất lớn, khai thác và phát triển các dịch vụ hỗ trợ SV là việc làm cần thiết đối với các trường.
Hiện nay, ở các dịch vụ hỗ trợ SV mới chỉ đáp ứng khoảng 30% nhu cầu.