Chương I1: Cơ sở lý luận chung về PT nguồn nhân lực. Chương 2: Thực trạng công tác PT NNL tại Trường Cao đẳng nghề Gia Lai Chương 3: Giải pháp về PT NNL tại Trường Cao đẳng nghề Gia Lai Do han chế về mặt thời gian, nên mặc dù đã được sự hướng dẫn tận tình của Thay giáo hướng dẫn TS. Nguyễn Phúc Nguyên và nỗ lực của tác giả, nhưng luận văn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được.
sự góp ý từ phía Quý thay cô, các chuyên gia và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn. Tổng quan tài liệu Công trình “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 của TS Nguyễn Thanh đã đề cập một cách tương đói có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển nguồn nhân lực ở nước ta, đồng thời chỉ rõ thực trạng nguồn nhân lực nước ta hiện nay, phân tích một số định hướng chủ yếu đẩy mạnh CNH, HĐH, trên cơ sở đó, tác giả đã tập trung phân tích làm nỗi bật vai trò của giáo dục- đào tạo đối với việc phát triển nguồn nhân lực ở nước ta, mà cho đến nay sự phát triển của thực tiễn đang đòi hỏi cần phải có sự bổ sung, khái quát thêm về lý luận cho phù hợp với thực tiễn Trong một cuộc trao đổi với phóng viên Báo Gia Lai, đồng chí Măng Đung- Phó Chủ tịch UBND Tỉnh Gia Lai cho biết về * Mở rộng mạng lưới dạy nghề và nâng cao chất lượng đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm”/ Tạp chí Gia Lai nguyệt san -2009-Tháng 9- Tr.7-8: Đào tạo nghề giữ một vai trò quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH. Nguồn nhân lực nói chung, công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ nói riêng đang thực sự trở thành yếu tố quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH, đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững đất nước, tạo sức cạnh tranh trên thị trường lao động trong nước, khu vực và quốc tế. Như vậy cho thấy một điều là Lãnh đạo Tỉnh Gia Lai rất coi trọng việc phát triển đào tạo nghề, coi đó là một nhiệm vụ giúp Tỉnh Gia Lai giải quyết việc làm để phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh nhà.
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục với đề tài “ Quản lý phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao dang nghề đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực vùng đồng bằng sông cửu long”. Tác giả đã đưa ra các khái niệm về Trường Cao đẳng nghề, Đội ngũ giáo viên, giảng viên dạy nghề. Và vai trò quan trọng đối với việc đào tạo nhân lực chất lượng cao, góp phần phát triển KT-XH của địa phương, vùng. Phát triển DNGV trường CĐN có ý nghĩa quyết định đối với việc đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực, góp phần phát triển KT-XH trong điều kiện CNH-HĐH và hội nhập quốc tế Quản lý phát triển ĐNGV trường CĐN đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực là sự tác động của chủ thể quản lý nhằm đảm bảo ĐNGVDN đạt chuẩn và đạt yêu cầu về số lượng, chất lượng, cơ cấu theo quy định, đồng thời chịu tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế.
Nội dung quan ly phát triển ĐNGV trường CĐN bao gồm các khâu: Quy hoạch; Tuyển dụng và sử dụng; Đào tạo và bồi dưỡng; Quan hệ hợp tác với các CSSX KD-DV; Thực hiện chính sách và Kiểm tra đánh giá [10] Trong ấn bản lần thứ 4 “Những nền tảng cơ bản trong Quản trị nguồn nhân lực” của bốn tác giả Raymon d A.Hollenbeck, Bamy Gerhart, Patrick M.Wright tiếp tục cung cấp cho các sinh viên những giới thiệu tóm tắt về quản trị nguồn nhân lực với nhiều ví dụ ứng dụng thực tế trong mỗi chương. Cuốn giáo trình này gồm 5 phần với 16 chương. Nó hứa hẹn mang lại cho những sinh viên muốn tìm hiểu sâu hơn những ứng dụng cụ thể về cách quản trị nguồn nhân lực chủ yếu được sử dụng trong môi trường làm việc hàng ngày. Cuốn sách mang lại những kiến thức về quản trị nguồn nhân lực thiết thực giúp họ thành công.
CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIÊN NGUÒN NHÂN LỰC 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Nhân lực, nguồn nhân lực Trước đây, trong quá trình nghiên cứu các nhà nghiên cứu thường sử dụng thuật ngữ “sức lao động”, “lực lượng lao động” hay “nguén lao dong” dé noi về nguồn nhân lực. Ngày nay, các thuật ngữ trên được thay bằng thuật ngữ “nguôn nhân lực” và được sử dụng rộng rãi.
Đó chính là bước phát triển cao. hơn về tư duy và nhận thức trong nghiên cứu con người lao động. có nghĩa nguồn nhân lực được xem xét dưới hình thức rộng hơn, khi nói đến nguồn nhân lực là không chỉ đề cập đến số lượng và còn chú trọng đến chất lượng nguồn nhân lực. Chúng ta biết rằng, bất kỳ một tổ chức nào cũng được tạo thành bởi các thành viên là con người hay nguồn nhân lực của nó.
Do đó, có thể nói nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tắt cả những người lao động làm việc trong. tô chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm thẻ lực, trí lực.[3] Theo cách tiếp cận này, thể lực chỉ sức khoẻ của thân thẻ, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khoẻ của con người, mức sóng, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc nghỉ ngơi, chế độ y tế. Ngoài ra, thể lực con người còn phụ thuộc vào tuổi tac, thời gian công tác, giới tính,. Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng.
khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách của từng người. Nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thẻ lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong qúa trình lao động sản xuất. Nó cũng được xem là sức lao động của người lao động của con người- một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố của sản xuất của các doanh nghiệp. Nhân lực của doanh nghiệp 'bao gồm tắt cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp.
[§] Nguồn nhân lực bao gồm tắt cả mọi cá nhân tham gia bắt cứ hoạt động nào. của một tô chức, bất ké vai trò của họ là gi [11] Có quan niệm cho rằng: nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa bao gồm. kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm, nỗ lực hay bất cứ đặc điểm nào khác của người lao động [12] Mặc dù có rất nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng nhìn chung nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể các tiềm năng của con người bao. gồm trí lực, thẻ lực, phẩm chất đạo đức.
Nguồn nhân lực là nguồn lực cơ bản nhất. Nhận thức rõ vai trò quyết định của nguồn lực con người Việt Nam so với các nguồn lực khác trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, Đảng ta đã khẳng định “Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”. Các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, khoa học - kỹ thuật, công nghệ, dù có nhiều bao nhiêu cũng vẫn là hữu hạn, chúng không có sức mạnh tự thân và sẽ cạn kiệt dần trong quá trình khai thác, sử dụng của con người. Hơn thế nữa, các nguồn lực này chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực khi được kết hợp với nguồn lực con người, thông qua hoạt động có ý thức của con người.
Từ các quan niệm trên, nguôn nhân lực được hiểu theo nghĩa rộng là tổng thể những tiềm năng của con người bao gôm thể lực, trí lực và nhân cách của con người đáp ứng sự đòi hỏi của một cơ cầu kinh tế - xã hội nhất định. Phát triển nguồn nhân lực Hiện nay thuật ngữ “phát triển nguồn nhân lực” được sử dụng khá phổ biến và được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau: Phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng là tổng thể các hoạt động hoc tập có tổ chức được tiền hành trong những khoảng thời gian nhất định để tạo ra sự thay đi hành vi nghề nghiệp cho người lao động và được thực hiện bởi doanh nghiệp. Phát triển nguồn nhân lực như vậy là bao gồm tắt cả các hoạt động học tập, thậm chí chỉ vài ngày, vài giờ [12] Trước hết, phát triển nguồn nhân lực chính là toàn bộ những hoạt động học tập được tô chức bởi doanh nghiệp, do doanh nghiệp cung cấp cho người lao động. Các hoạt động đó có thể được cung cấp trong vài giờ, vài ngày hoặc thậm chí tới vài năm, tuỳ vào mục tiêu học tập và nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của họ.
Phát triển nguồn nhân lực được tạo thành bởi 3 bộ phận: giáo dục, đào tạo và phát triển. Giáo dục: là các hoạt động học tập đề chuẩn bị cho con người bước vào. một nghề nghiệp hoặc chuyển sang nghề mới thích hợp hơn trong tương lai. Đào tao: được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình.
Phát triển: là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tô chức. Theo Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO): phát triển nguồn nhân lực được đặc trưng bởi toàn bộ sự lành nghề của dân cư trong mối quan hệ với sự phát triển của đất nước. Theo tô chức lao động quốc tế (ILO): phát triển nguồn nhân lực bao hàm một phạm vi rộng lớn hơn chứ không chỉ có sự chiếm lĩnh nghề hoặc ngay cả việc đảo tạo nói chung. Theo Leonard Nadler: phát triển nguồn nhân lực là các kinh nghiệm học tập có tổ chức được diễn ra trong những khoảng thời gian nhất định nhằm.
tăng khả năng thực hiện công việc, phát triển ô chức và cá nhân. Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển nguồn nhân lực nhưng nhìn chung phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình học tập và phát triển năng lực toàn diện của con người vì sự tiến bộ kinh tế, xã hội toàn và sự hoàn thiện bản thân của mỗi người.