CHƯƠNG 1: NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VÀ PHÁP LY VE QUAN LÝ CÔNG CHỨC CÁP XÃ. Những vấn đề lý luận về quản lý công chức cấp xã 1. Khái niệm Công chức cấp xã Trên thế giới khái nệm công chức được xuất hiện cách đây vai thé ky dưới nha nước tư ban. Ở Pháp, theo Từ điển Petit Larousse năm 1991, công chức được định nghĩa như sau: “Nhân viên của nhà nước được biên chế vào một công việc thường xuyên liên tục, rong một ngạch của thứ bậc hành chính, biên ché của một ngành công vụ”.
Ở Trung Quốc, khái niệm công chức được hiểu là “#ững người công tác trong cơ quan hành chính các cáp, trừ nhân viên phục vụ, bao gồm công chức lãnh dao và công chức nghiệp vụ `. Công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyển lực nhà nước, được bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều hành của Hiến Pháp, Điều lệ công chức va Luật tổ chức của chính quyển các cấp. Công chức nghiệp vụ là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do các cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm va quán lý căn cứ vào Điều lệ công chức, chiếm tuyệt đại đa số trong công chức nhả nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành các chính sách và pháp luật. Nhìn chung, các quốc gia trên thế giới có nhiều điểm chung cơ bán trong quan niệm về công chức.
Tuy nhiên, do ảnh hưởng của truyền thông văn hóa và xã hội, cũng như các đặc điểm chính trị và kinh tế, mỗi quốc gia cũng có những đặc thù riêng của mình. Trong lịch sử của Việt Nam, khái niệm công chức đã trải qua nhiều thay đôi qua các thời ky. Sự hình thành và phát trién ngay cảng hoàn thiện của nên hành chính nha nước thường đi kèm với việc hình thành va phát trién của 1 Luận văn thạc sỹ, Thực hiện chính sách phát triển công chức cập xã trên dia bàn Thành phố Buôn Ma Thuột, tinh Dak Lak, Nguyên Hữu Sơn, 2019 11 khái niệm này. Khái niệm công chức lần đầu tiên được nêu ra trong Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoa ban hành Quy chế công chức như sau: “Những công dan Việt Nam được chính quyên nhân dân tuyên dụng, giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, déu là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định”.
Cùng với sự phát triển của đất nước và nên hanh chính nước nhà, khái niệm công chức đã dần được quy định cụ thé hơn, chi tiết hơn. Đến năm 2008, Quéc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước đến nay cắt nghĩa được rõ ràng hơn. Đây là một bước tiến mới, có tính cách mạnh trong việc cải cách chế độ công vụ và công chức, thể chế hóa quan điểm và đường lối của Đảng về công tác cán bộ. Điều nay nhằm đáp ứng yêu câu của việc xây dựng Nha nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, được thực hiện vì lợi ích của nhân dân, bởi nhân dân và vì cộng đồng.
Khái niệm công chức được quy định tại Khoản 2, Điều 4, Luật cán bộ, công chức 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2019 “Công chức là công dan Việt Nam, được tuyển dụng, bồ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quán đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước ”Ẻ. ? Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 3 Khoản 2, Điều 4, Luật can bộ, công chức 2008, sửa đổi, bỗ sung năm 2019 12 “Công chức cấp xã” được quy định tại Khoản 3, Điều 4 của Luật cán bộ, công chức 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2019 như sau: “Công chức cấp xã là công dân Viét Nam được tuyén dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cáp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Đặc điểm công chức cấp xã: Thứ nhất, công chức cấp xã lả người trực tiếp làm việc với người dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều do đội ngũ CBCC cấp xã phô biến, trién khai để nhân dân hiểu rõ va thi hành.
Thứ hai, công chức cấp xã thường hội tụ đủ các vai trò khác nhau mả họ phải thê hiện như: công dân; đồng hương, bà con, họ hàng: người đại diện của cộng đồng: đại diện cho Nhà nước. Những vai trò này vừa có tính thống nhất vừa có tính mâu thuẫn, xung đột trong mỗi hoàn cảnh, ít nhiều có tác động, chi phối hoạt động công vụ của họ, nhất là trong việc giải quyết những vấn dé có liên quan đến mối quan hệ giữa các lợi ích cá nhân - cộng đồng - Nhà nước. Thứ ba, hoạt động thực thi công vụ của công chức cấp xã mang tính đa dạng, phức tạp. Họ phải giải quyết tất cả các công việc trong đời sống xã hội ở địa phương, mang tính thường xuyên đề đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người dân.
Thứ tư, hiện nay trình độ của công chức cấp xã đã từng bước được nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bat cập về trình độ văn hoá, nhận thức, năng lực thực thi công vụ, đặc biệt là công chức ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bao dân tộc thiểu sé. Như vậy, công chức cấp xã là người được tuyển dụng và phụ trách những lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ cụ thé tai Uy ban nhân dân cấp xa, * Khoản 3, Điều 4 của Luật cán bộ, công chức 2008, sửa đổi, bd sung năm 2019 13 trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc điều hành, chỉ đạo công tác, thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Theo Nghị định 33/2023/NĐ-CP, ngày 10 tháng 6 năm 2023 “quy định về can bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tô dân phố ” công chức cấp xã có các chức danh sau: - Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự; - Văn phòng - thống kê; - Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị tran) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng va môi trường (đối với xã); - Tài chính - kế toán; - Tư pháp - hộ tịch; - Văn hóa - xã hội.
Khái niệm, đặc điểm quan lý công chức cấp xã Trong cuộc sống xã hội, quản ly là kết quả của việc tô chức hoạt động chung của con người. Nó 1a quá trình điều hành, chi đạo các hoạt động chung của con người, hòa hợp các hoạt động cá nhân thành một hoạt động chung nhằm đạt được mục tiêu đã dé ra. Dé thực hiện quản lý, tổ chức va quyển uy là hai yếu tô không thé thiếu. Tổ chức định rõ chức năng, nhiệm vu, quyền hạn và mối quan hệ của các thành viên tham gia vào hoạt động chung, trong khi quyên uy là khả năng ép buộc ý chí của chủ thé quản lý lên các đối tượng quan ly, dam bảo sự tuân thủ của cá nhân đối với tô chức.
Quyền uy 1a công cụ quan trọng giúp chủ thé quan lý điều hành, chi đạo và buộc các đôi tượng quán lý tuân theo yêu câu và mệnh lệnh của mình. Quan lý công chức cấp xã là những hoạt động chỉ đạo, điều hành của cơ quan, cá nhân có thẳm quyên với đội ngũ công chức cấp xã nhằm đảm bảo 14 hiệu quả, hiệu lực thực thi công vụ, dam bảo mục tiêu quản ly nhà nước của UBND cấp xã. Đặc điểm quán lý công chức cấp xã có đặc điểm chung quán lý hành chính nhà nước: tinh chấp hành — điều hành; tính chủ động sáng tạo, tính khoa học. Bên cạnh đó, quản lý công chức cấp xã có đặc điểm riêng: Thứ nhất, là hoạt động được tiến hành bởi các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương dé địa phương như ở Trung ương là Bộ Nội vụ; ở tinh là Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Nội vu; ở huyện là Ủy ban nhân dân huyện, phòng Nội vụ và cuối cùng là Ủy ban nhân cấp xã.
Thứ hai, đối tượng quan ly là công chức cấp xã. Do là những người được tuyển dụng theo đúng quy định của Luật cán bộ, công chức 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). Những người này được giao nhiệm vụ thực thi các nhiệm vụ thuộc các nhóm lĩnh vực chuyên môn như: Văn phòng — Thông kê, Tài chính — Kế toán, Địa chính - môi trường, Văn hóa — xã hội, Tư pháp — Hộ tịch nhằm giúp UBND cấp xã thực hiện quyền hạn của mình. Thứ ba, nội dung quản lý rất phong phú, bao gồm: Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về cán bộ, công chức; Xây dựng kế hoạch, quy hoạch cán bộ, công chức; Quy định chức danh và cơ cầu cán bộ: Quy định ngạch, chức danh, mã số công chức; mô tả, quy định vi trí việc làm và cơ cầu công chức để xác định số lượng biên chế; Các công tác khác liên quan đến quản lý cán bộ, công chức quy định tại Luật này.
Đề bảo đảm tính thống nhất trong quán lý công chức cấp xã hiện nay, Luật Cán bộ, công chức 2008 sửa đổi bổ sung năm 2019 và Nghị định 33/2023/NĐ-CP đã quy định rất rõ ràng. Việc quản lý công chức cấp xã phải dựa trên các nguyên tắc được quy định tại Điều 3, Nghị định 33/2023/NĐ-CP như: Bảo đảm sự lãnh dao thống nhất của cáp ty đảng; Bao dam nguyên tắc tập trung dân chủ và phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng dau cơ 15 quan, tô chức, đơn vị; Kết hợp giữa tiêu chuẩn chức vụ, chức danh, số lượng va vị tri việc lam cua can bộ, công chức cấp xã; số lượng và chức danh người hoạt động không chuyên trách ở cấp xd, ở thôn, tô dan phố.