phần mở đầu, kết luận, các chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 03 chƣơng cụ thể nhƣ sau: - Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về chất lƣợng công chức cấp xã - Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng công chức cấp xã, huyện Mƣờng Khƣơng, tỉnh Lào Cai - Chƣơng 3: Mục tiêu, giải pháp nâng cao chất lƣợng công chức cấp xã, huyện Mƣờng Khƣơng tỉnh Lào Cai và đề xuất kiến nghị. 11 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƢỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm công chức và khái niệm công chức cấp xã Cấp xã là gần dân nhất, là nơi chính quyền trong lòng dân.
cấp xã là cấp thấp nhất trong các cấp độ quản lý của hệ thống chính quyền nhà nƣớc nhƣng lại là nền tảng của chế độ chính trị và đời sống xã hội, là nơi thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách trực tiếp đồng thời ngƣời dân có điều kiện hiểu rõ hơn về bộ máy Nhà Nƣớc. Qua đó có thể nhận biết đƣợc lòng dân đối với Đảng và nhà nƣớc. Đây là nơi thực hiện đƣờng lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nƣớc, nơi thể hiện rõ nhất nghị quyết của Đảng đƣợc tổ chức ra sao và đi vào cuộc sống nhƣ thế nào, mang lại những hiệu quả gì cho nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “Cấp xã là cấp gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính.
Cấp xã làm được việc thì mọi công việc được xong xuôi” [Hồ Chí Minh toàn tập: Tập 5, NXB CTQG, H. Cấp xã là cấp chính quyền trực tiếp thực hiện giải quyết và bảo đảm trên thực tế việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân có đƣợc tôn trọng và bảo đảm thực hiện hay không, trƣớc hết phải đƣợc thể hiện ở hoạt động của chính quyền cấp xã, thông qua chất lƣợng hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức thực thi nhiệm vụ. Trong lịch sử ra đời và phát triển của nền công vụ có thể thấy bất cứ nhà nƣớc nào cũng đều xây dựng và quản lý một đội ngũ công chức bao gồm những ngƣời có năng lực quản lý, trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức tốt, làm việc tận tụy, nghiêm túc hết lòng vì nhân dân. Công chức là chìa khóa thành công của mọi nền công vụ trên thế giới, tất cả các nƣớc kể từ khi cách mạng tƣ sản diễn ra đến nay đều cần xây dựng 12 Luan van và quản lý một đội ngũ công chức bao gồm những ngƣời có năng lực, có trình độ chuyên môn, có phẩm chất đạo đức tốt làm việc nghiêm túc vì bổn phận của mình với nền công vụ.
Công vụ là một loại hoạt động giắn liền với công chức là một loại lao động thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc, thực thi pháp luật. Không xây dựng và quản lý đƣợc đội ngũ công chức nhƣ vậy, kỷ cƣơng nhà nƣớc sẽ bị buông lỏng, hiệu quả, hiệu lực của nền hành chính bị suy giảm, xã hội trở nên lộn xộn, nhà nƣớc khó thực hiện đƣợc chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội của mình. Ở Pháp theo Điều 2, Chƣơng II của quy chế chung về công chức nhà nƣớc năm 1994, khái niệm công chức đƣợc ấn định “Công chức là những ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào một công việc thƣờng xuyên với thời gian làm việc trọn vẹn và đƣợc biên chế vào một ngạch trong thứ bậc của các cơ quan hành chính nhà nƣớc, các cơ quan ngoại biên hoặc trong công sở nhà nƣớc”. Trong những năm gần đây, ở Pháp thừa nhận khái niệm công chức “Công chức bao gồm toàn bộ những ngƣời đƣợc nhà nƣớc hoặc cộng đồng lãnh thổ bổ nhiệm vào làm việc thƣờng xuyên trong một công sở hay công sở tự quản, kể cả các bệnh viện và đƣợc biên chế vào một ngạch của nền hành chính công”.
Nhìn chung, các nƣớc trên thế giới có nhiều điểm cơ bản giống nhau trong quan niệm về công chức, mặt khác do truyền thống văn hóa, xã hội, do đặc điểm chính trị, kinh tế nên mỗi nƣớc có những điểm riêng. Ở Việt Nam, khái niệm công chức đƣợc hình thành phát triển và hoàn thiện gắn với sự phát triển của nền hành chính nhà nƣớc. Điểm khởi đầu của sự hình thành khái niệm công chức ở Việt Nam nằm trong giai đoạn 1946 - 1960 đó là việc ban hành Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa về Quy chế công chức. Theo đó khái niệm công chức đƣợc hiểu “những công dân Việt Nam đƣợc chính quyền nhân dân 13 Luan van tuyển để giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong các cơ quan Chính phủ, nhà nƣớc đều là công chức thực hiện theo quy chế này, trừ những trƣờng hợp do Chính phủ quy định (trích Điều 1, Sắc lệnh Số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950).
Do hoàn cảnh kháng chiến sau đó, nên tuy không có văn bản nào bãi bỏ Sắc lệnh 76/SL nhƣng trên thực tế các nội dung của quy chế đó không đƣợc áp dụng. Đây là lần đầu tiên ở Việt Nam khái niệm công chức đƣợc quy định trong văn bản chính thức của Nhà nƣớc. Sau năm 1954, do yêu cầu của cách mạng và nhu cầu bổ sung nguồn nhân lực trong bộ máy nhà nƣớc, các tổ chức xã hội, đoàn thể ngày càng tăng, chế độ công chức dần đƣợc thay thế bằng chế độ cán bộ công nhân viên chức, tức là bao gồm tất cả những ngƣời làm việc trong bộ máy nhà nƣớc, cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị xã hội các đơn vị kinh tế nhà nƣớc đều thuộc diện biên chế nhà nƣớc và đƣợc gọi chung là cán bộ công nhân viên chức nhà nƣớc. Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trƣởng ra đời nêu rõ “Công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm, giữ 1 chức vụ thƣờng xuyên trong 1 công sở nhà nƣớc ở Trung ƣơng hay địa phƣơng ở trong nƣớc hay ngoài nƣớc đã đƣợc xếp vào một ngạch, hƣởng lƣơng do ngân sách nhà nƣớc cấp gọi là công chức.
Sau ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975, thống nhất đất nƣớc, chúng ta thực hiện chế độ cán bộ trên phạm vi cả nƣớc, theo đó tất cả những ngƣời làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nƣớc, nông trƣờng, lâm trƣờng và lực lƣợng vũ trang đều đƣợc gọi chung trong một cụm từ là “cán bộ, công nhân viên nhà nƣớc”. Hầu nhƣ mọi ngƣời khi kê khai lý lịch nếu đang làm việc trong các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị xã hội, doanh nghiệp nhà nƣớc. đều ghi ở mục thành phần bản thân là “cán bộ, công nhân, nhà nƣớc”. 14 Luan van Theo Điều 4, Khoản 2, Luật Công chức 2008, luật số 22/2008/QH12, ngày 13/11/ 2008 do Quốc hội ban hành, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
[14] Để hƣớng dẫn thi hành Luật Công chức, Chính phủ và các bộ ngành đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới nhƣ Nghị định số 06/2010/NĐ- CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 quy định công chức là “Công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. [16] Nhƣ vậy công chức ở Việt Nam không chỉ là những ngƣời làm việc trong các cơ quan Hành chính nhà nƣớc mà còn bao gồm cả những ngƣời làm việc ở các Ban của Đảng, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam; các tổ chức Chính trị xã hội nhƣ: Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam, các cơ 15 Luan van quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân từ cấp Trung ƣơng đến cấp huyện. Ở Việt Nam, công chức cấp xã chỉ đƣợc thừa nhận và hình thành từ khi Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh CBCC năm 2003 đƣợc ban hành. Nhƣ vậy nếu phân định theo cấp hành chính thì công chức gồm công chức ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.
Ở nƣớc ta, các cơ quan thuộc đơn vị hành chính cấp xã nhƣ Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân đều là những cơ quan nhà nƣớc. Tuy nhiên, do tính chất hoạt động của công chức cấp xã có những đặc điểm riêng nên nhà nƣớc cần phải có các qui định đối với công chức cấp xã cho phù hợp. Công chức cấp xã là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Nhƣ vậy nếu so sánh các khái niệm “công chức xã” và “công chức” thì cơ bản là giống nhau chỉ khác nhau về đơn vị hành chính và lãnh thổ nơi công tác.
Nhƣ vậy, công chức xã đƣợc tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân cấp xã trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc, trực tiếp tham mƣu cho lãnh đạo UBND cấp xã trong việc điều hành, chỉ đạo công tác chuyên môn và thực hiện các chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc.