Tổng quan nghiên cứu

Huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn sở hữu lực lượng lao động trong độ tuổi đạt 33.208 người, chiếm 60,5% tổng dân số toàn huyện. Tuy nhiên, có tới 87,67% lực lượng lao động đang hoạt động trong khu vực nông - lâm nghiệp với phương thức canh tác truyền thống, năng suất chưa cao. Tính đến hết năm 2017, tỷ lệ lao động qua đào tạo trên địa bàn huyện chỉ đạt 42,2%, phản ánh thực trạng thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực có kỹ năng kỹ thuật phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa quy mô lao động nông thôn dồi dào và chất lượng tay nghề thấp trong bối cảnh địa hình chia cắt mạnh với 17 trên tổng số 20 đơn vị hành chính thuộc khu vực III (xã đặc biệt khó khăn). Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá toàn diện thực trạng công tác đào tạo nghề giai đoạn 2010 - 2017, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Bình Gia đến năm 2020.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 19 xã và 01 thị trấn trên diện tích 109.415,1 ha của huyện Bình Gia, tập trung vào đối tượng người lao động nông thôn, cán bộ quản lý và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Luận văn mang ý nghĩa khoa học sâu sắc khi hoàn thiện khung đánh giá hiệu quả dạy nghề đặc thù cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm trên 96% dân số huyện). Về mặt thực tiễn, đề tài trực tiếp đóng góp vào mục tiêu nâng tốc độ tăng trưởng kinh tế địa phương đạt trên 11,41%/năm, nâng mức thu nhập bình quân đầu người từ 25,9 triệu đồng năm 2017 lên các mức cao hơn và nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt mốc 55% vào năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết vốn con người của Theodore Schultz và Gary Becker cùng khung năng lực chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Lý thuyết vốn con người khẳng định rằng đầu tư vào giáo dục và đào tạo nghề là phương thức căn bản nhất để nâng cao năng suất biên của lao động nông nghiệp, chuyển hóa tiềm năng dân số thành động lực phát triển kinh tế trực tiếp. Khung lý thuyết của ILO tiếp cận hoạt động đào tạo nghề dưới mô hình tích hợp ba thành tố KSA bao gồm kiến thức (Knowledge), kỹ năng thực hành (Skills) và thái độ nghề nghiệp (Attitudes), bảo đảm người học có thể tự tạo việc làm hoặc đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường lao động.

Bốn khái niệm cốt lõi được vận dụng xuyên suốt đề tài gồm:

  • Lao động nông thôn: Những người từ đủ 15 tuổi trở lên cư trú tại địa bàn nông thôn, có khả năng lao động và tham gia hoặc có nhu cầu tham gia hoạt động kinh tế.
  • Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Quá trình truyền thụ có tổ chức các kỹ năng sản xuất, chế biến, dịch vụ nhằm nâng cao năng lực hành nghề thực tế.
  • Năng lực nghề nghiệp: Sự tổng hòa giữa hiểu biết lý thuyết chuyên ngành và sự thành thạo thao tác máy móc, công nghệ sản xuất.
  • An sinh xã hội nông thôn: Hệ thống các biện pháp công cộng bảo đảm thu nhập và giảm thiểu tính dễ bị tổn thương cho lao động vùng sâu, vùng xa.

Cơ sở pháp lý nền tảng của nghiên cứu bắt nguồn từ Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 và Quyết định số 73/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thống từ Cục Thống kê tỉnh Lạng Sơn, Chi cục Thống kê huyện Bình Gia, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Bình Gia giai đoạn 2010 - 2017. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa trên quy mô mẫu gồm 21.343 hộ gia đình tại 20 xã, thị trấn, đại diện cho toàn bộ 54.887 nhân khẩu trên địa bàn huyện. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để bao phủ các nhóm dân tộc chủ đạo gồm dân tộc Nùng (chiếm 62,08%), dân tộc Tày (chiếm 26,69%), dân tộc Dao (chiếm 6,51%) và dân tộc Kinh (chiếm 3,22%).

Phương pháp phân tích số liệu bao gồm thống kê mô tả nhằm xác định tần suất, tỷ lệ và số bình quân; phương pháp thống kê so sánh chuỗi thời gian để nhận diện xu hướng biến động lao động qua đào tạo; và phương pháp phân tích SWOT nhằm làm rõ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội cùng thách thức nội tại. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là vì địa bàn Bình Gia có địa hình đồi núi dốc trên 25 đến 30 độ và điều kiện kinh tế phân hóa sâu sắc, đòi hỏi phương pháp tiếp cận định lượng kết hợp phỏng vấn sâu bán cấu trúc để phản ánh chân thực năng lực hấp thụ đào tạo của từng tiểu vùng sinh thái.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nhu cầu học nghề của người dân địa phương là rất lớn nhưng tập trung chủ yếu vào hình thức đào tạo ngắn hạn, linh hoạt. Kết quả khảo sát thực tế tại 20 xã và thị trấn ghi nhận trong tổng số 20.088 người trong độ tuổi có khả năng lao động, có tới 15.827 người có nguyện vọng học nghề (chiếm 78,79%). Đáng chú ý, có 12.998 lao động (chiếm 82,12% số người có nhu cầu) lựa chọn hệ đào tạo nghề thường xuyên dưới 3 tháng nhằm tranh thủ thời gian nông nhàn, tập trung vào kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm, kỹ thuật trồng cây lâm nghiệp trên tổng diện tích 84.189 ha đất rừng của huyện.

Thứ hai, nguồn lực và cơ sở vật chất của đơn vị đào tạo nòng cốt còn nhiều hạn chế. Trung tâm Dạy nghề huyện Bình Gia chỉ có 06 cán bộ biên chế, trong đó có vỏn vẹn 02 giáo viên cơ hữu và phải ký hợp đồng thỉnh giảng từ 02 đến 09 giáo viên ngoài ngành. Điều này dẫn tới sự bị động nghiêm trọng khi tổ chức các lớp kỹ thuật chuyên sâu như sửa chữa máy nông nghiệp, may thêu công nghiệp hay chế biến nông sản.

Thứ ba, công tác truyền thông và chuyển dịch cơ cấu việc làm đã ghi nhận những bước tiến tích cực. Các tổ chức đoàn thể đã thực hiện 130 buổi tuyên truyền lồng ghép cho 7.800 lượt đoàn viên, phát sóng 106 phóng sự chuyên đề trên hệ thống truyền thanh và tổ chức 445 hội nghị thôn bản thu hút trên 25.000 lượt người tham gia. Kết quả là tỷ lệ lao động qua đào tạo đã tăng từ mức 25% trong giai đoạn 2010 - 2015 lên 42,2% vào năm 2017, đóng góp vào việc duy trì tỷ lệ giải quyết việc làm sau đào tạo đạt trên 80%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế xuất phát từ rào cản địa hình phức tạp, giao thông cách trở và tâm lý sản xuất tiểu nông tự cung tự cấp của cư dân miền núi. Mức thu ngân sách huyện năm 2017 đạt 20.761 triệu đồng, chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu chi thường xuyên là 563.555 triệu đồng, khiến nguồn vốn đầu tư trang thiết bị dạy nghề phụ thuộc phần lớn vào trợ cấp ngân sách cấp trên.

So sánh với mô hình đào tạo theo địa chỉ tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình - nơi đạt tỷ lệ lao động có việc làm từ 85% đến 90% nhờ liên kết trực tiếp với hơn 60 doanh nghiệp tại 2 khu công nghiệp, Bình Gia còn thiếu vắng các doanh nghiệp quy mô lớn đóng vai trò đỡ đầu đầu ra. Tương tự, bài học từ thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang với mạng lưới 14 trung tâm học tập cộng đồng giải quyết việc làm cho 5.130 lao động năm 2015 cho thấy Bình Gia cần đa dạng hóa các ngành phi nông nghiệp thay vì chỉ thuần túy tập trung vào nông nghiệp truyền thống.

Các phát hiện nghiên cứu thực nghiệm có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện lộ trình tăng trưởng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 25% năm 2010 lên 42,2% năm 2017 và hướng tới 55% năm 2020. Đồng thời, bảng ma trận phân bổ kinh phí theo các nhóm nghề giai đoạn 2011 - 2015 sẽ làm rõ sự chênh lệch chi phí đào tạo giữa nhóm nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp, từ đó cung cấp căn cứ xác đáng cho việc điều chỉnh chính sách cấp cơ sở.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát và thực tiễn phát triển kinh tế tại huyện Bình Gia, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Đổi mới quy trình điều tra, dự báo nhu cầu đào tạo nghề gắn với quy hoạch nông - lâm nghiệp: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân 20 xã, thị trấn tiến hành rà soát hàng năm 100% hộ gia đình. Phân loại chính xác 15.827 lao động có nhu cầu học nghề thành các nhóm ngành cụ thể, ưu tiên kỹ thuật trồng rừng kinh tế trên diện tích 70.322,4 ha rừng sản xuất và khai thác chế biến khoáng sản đá vôi, than bùn tại xã Hoàng Văn Thụ, Tân Văn. Thời gian thực hiện liên tục giai đoạn 2019 - 2020.

  2. Hiện đại hóa cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên: Ủy ban nhân dân huyện Bình Gia ưu tiên trích ngân sách địa phương và lồng ghép nguồn vốn Đề án 1956 để đầu tư xưởng thực hành cơ khí máy nông nghiệp, thiết bị dạy nghề lưu động. Tăng cường biên chế giáo viên cơ hữu từ 02 cán bộ lên tối thiểu 08 đến 10 cán bộ đạt chuẩn nghiệp vụ sư phạm dạy nghề trước năm 2020; đồng thời mời các kỹ sư nông nghiệp, nghệ nhân có tay nghề cao tham gia thỉnh giảng trực tiếp tại các thôn bản.

  3. Hoàn thiện chương trình, giáo trình theo phương thức cầm tay chỉ việc: Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện phối hợp với các viện nghiên cứu, trường cao đẳng nghề biên soạn bộ giáo trình chuẩn hóa cho 6 nghề mũi nhọn gồm: sửa chữa máy nông nghiệp, chăn nuôi gia súc quy mô gia trại, nhân giống cây lâm nghiệp bằng phương pháp giâm hom, thêu ren mây tre đan và kỹ thuật trồng cây ăn quả chất lượng cao. Cắt giảm lý thuyết hàn lâm, nâng thời lượng thực hành lên 70% tổng thời gian khóa học.

  4. Mở rộng liên kết doanh nghiệp và nhân rộng mô hình đào tạo theo đơn đặt hàng: Ủy ban nhân dân huyện ký kết biên bản hợp tác với các hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến lâm sản trên địa bàn và các khu công nghiệp tại Lạng Sơn, Bắc Giang, Thái Nguyên. Thiết lập mục tiêu cụ thể: đào tạo nghề cho trên 750 lao động/năm, bảo đảm tỷ lệ có việc làm sau học nghề đạt trên 80%, giải quyết việc làm tại doanh nghiệp trong nước cho trên 1.000 lao động và đưa trên 150 lao động đi làm việc ở nước ngoài mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Ủy ban nhân dân huyện Bình Gia, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Lạng Sơn sử dụng hệ thống số liệu khảo sát từ 21.343 hộ dân và các chỉ tiêu dự báo đến năm 2020 để hoạch định kế hoạch phân bổ ngân sách, ban hành chính sách hỗ trợ học nghề phù hợp với 17 xã vùng III đặc biệt khó khăn.

  • Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và trung tâm đào tạo: Ban giám đốc và giảng viên Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên cấp huyện áp dụng khung đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy tích hợp lý thuyết - thực hành cho học viên dân tộc Nùng, Tày, Dao.

  • Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học ngành Kinh tế nông nghiệp: Các nhà khoa học tham khảo phương pháp luận kết hợp phân tích SWOT, mô hình KSA của ILO và bộ chỉ tiêu đo lường hiệu quả đào tạo nghề vùng cao làm tài liệu nghiên cứu chuyên sâu hoặc phát triển các đề tài luận văn liên quan.

  • Doanh nghiệp, hợp tác xã và chủ trang trại tại vùng miền núi: Các chủ cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng thông tin về cơ cấu nguồn nhân lực địa phương (với 33.208 lao động) để xây dựng phương án liên kết đào tạo theo địa chỉ, tuyển dụng lao động phù hợp với yêu cầu thực tế sản xuất.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Bình Gia lại mang tính cấp bách? Huyện Bình Gia có 87,67% lao động hoạt động trong khu vực nông - lâm nghiệp nhưng tỷ lệ qua đào tạo năm 2017 chỉ đạt 42,2%. Nâng cao chất lượng lao động là con đường duy nhất để giải quyết tình trạng thiếu việc làm mùa vụ, khai thác hiệu quả 84.189 ha đất lâm nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng đồng bào thiểu số.

  • Người lao động tại huyện Bình Gia có nhu cầu học những ngành nghề nào nhiều nhất? Khảo sát thực tế trên 15.827 lao động có nhu cầu học nghề cho thấy 82,12% người học lựa chọn các khóa đào tạo thường xuyên ngắn hạn dưới 3 tháng. Các nghề được quan tâm hàng đầu gồm kỹ thuật chăn nuôi gia súc - gia cầm, ươm tạo giống cây lâm nghiệp, trồng cây ăn quả có múi, sửa chữa máy nông nghiệp và sửa chữa xe máy.

  • Đâu là điểm nghẽn lớn nhất trong hệ thống đào tạo nghề tại địa phương thời gian qua? Hạn chế cốt lõi nằm ở năng lực đội ngũ và trang thiết bị. Trung tâm Dạy nghề huyện chỉ có 02 giáo viên cơ hữu trên tổng số 06 cán bộ, phụ thuộc lớn vào việc thuê giảng viên ngoài. Ngoài ra, địa hình dốc trên 25 đến 30 độ và ngân sách địa phương hạn hẹp gây cản trở việc đầu tư xưởng máy thực hành.

  • Mô hình liên kết nào có thể giúp nâng cao tỷ lệ việc làm sau đào tạo tại huyện Bình Gia? Địa phương nên học tập mô hình đào tạo theo địa chỉ từ huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình (đạt tỷ lệ việc làm 85% - 90%) và thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Việc ký hợp đồng trực tiếp với các doanh nghiệp sản xuất, hợp tác xã lâm nghiệp đưa học viên thực hành tại xưởng sẽ đảm bảo đầu ra bền vững.

  • Mục tiêu cụ thể của huyện Bình Gia về đào tạo nghề và việc làm đến năm 2020 là gì? Huyện đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 55%, mỗi năm đào tạo nghề cho trên 750 lao động với tỷ lệ có việc làm đạt trên 80%, giải quyết việc làm mới trong nước cho trên 1.000 người, đưa trên 150 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài và bồi dưỡng 300 lượt cán bộ cấp xã.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện bức tranh lao động huyện Bình Gia với quy mô 33.208 người trong độ tuổi lao động, chỉ ra thực trạng tỷ lệ qua đào tạo năm 2017 đạt 42,2% và nhu cầu học nghề thực tế của 15.827 người dân.
  • Khẳng định tính đúng đắn của việc vận dụng Quyết định 1956/QĐ-TTg và Quyết định số 73/QĐ-UBND tỉnh Lạng Sơn vào điều kiện thực tế của địa bàn có 17/20 xã vùng III.
  • Làm rõ các nút thắt then chốt về nguồn nhân lực giảng dạy khi cơ sở đào tạo huyện chỉ có 02 giáo viên cơ hữu, cơ sở vật chất còn thiếu đồng bộ và chương trình đào tạo chưa bám sát nhu cầu doanh nghiệp.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ điều tra nhu cầu, chuẩn hóa giáo trình cầm tay chỉ việc, nâng cao năng lực giáo viên đến gắn kết chặt chẽ với thị trường tiêu thụ lao động.
  • Xác lập lộ trình phấn đấu đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt mốc 55% vào năm 2020, tạo việc làm mới cho trên 1.000 lao động mỗi năm, đóng góp tích cực vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế trên 11,41%/năm của huyện.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp một bản thiết kế chính sách khả thi, giàu tính thực tiễn và phù hợp với đặc thù văn hóa - xã hội của đồng bào các dân tộc Nùng, Tày, Dao tại vùng núi phía Bắc. Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục nghề nghiệp được khuyến khích khai thác, ứng dụng các phát hiện và giải pháp của đề tài vào công tác điều hành, giảng dạy thực tế để thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn bền vững.