Chương 1 NHỮNG VẤN ðỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH ðIỆN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 1.1 NGUỒN NHÂN LỰC VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 1.1 Nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực (NNL) hay còn ñược gọi “nguồn lực con người” bắt nguồn từ cụm từ tiếng Anh “human resource” ñược sử dụng rộng rãi từ thập niên 60 của thế kỷ 20 ở nhiều nước phương Tây và một số nước châu Á, hiện nay ñã trở thành phổ biến trên thế giới. Ở những năm ñầu của thế kỷ 20, NNL chỉ ñược quan tâm chủ yếu ở góc ñộ sử dụng, khai thác lao ñộng. ðến những năm 1920 quan niệm về lao ñộng, một yếu tố trong sản xuất mới ñược ñược nhìn nhận như một nhân tố cần phù hợp và gắn liền với doanh nghiệp. Khái niệm NNL ñược xem xét ở những phạm vi và cách tiếp cận khác khác nhau.
Một cách khái quát, NNL ñược hiểu là tổng thể những tiềm năng của con người của một quốc gia, vùng lãnh thổ hay một ngành có trong một thời kỳ nhất ñịnh [6]. Tiềm năng trước hết và cơ bản nhất của NNL là tiềm năng lao ñộng, bao gồm năng lực về thể lực, trí lực và nhân cách của người lao ñộng ứng với một cơ cấu nhất ñịnh do nền kinh tế - xã hội ñòi hỏi. Theo cách hiểu này thì khái niệm về NNL có tính trừu tượng. Tuy nhiên với tư cách là nguồn cung cấp sức lao ñộng cho xã hội, NNL bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao ñộng và là nguồn nhân lực xã hội.
Trong lĩnh vực lao ñộng, NNL ñược hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong ñộ tuổi lao ñộng có khả năng lao ñộng. Với cách hiểu này NNL tương ñương với khái nhiệm nguồn lao ñộng [52]. Ở Việt Nam, theo quy ñịnh của Tổng cục Thống kê thì NNL gồm những người ñủ 15 tuổi trở lên có việc làm (lao ñộng ñang làm việc) và 13 những người trong ñộ tuổi lao ñộng có khả năng lao ñộng nhưng ñang ở trong các trình trạng: ñang thất nghiệp; ñang ñi học; ñang làm nội trợ trong gia ñình mình; không có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác chưa tham gia lao ñộng (không tính ñến những người trong lực lược vũ trang). Trong kết cấu này, NNL tham gia hoạt ñộng kinh tế là một bộ phận năng ñộng nhất.
Bộ phận này bao gồm những người trong ñộ tuổi lao ñộng có khả năng lao ñộng và những người trên ñộ tuổi lao ñộng (trên 55 tuổi ñối với nữ và trên 60 tuổi với nam theo quy ñịnh hiện nay) ñang làm việc. Bộ phận NNL này còn ñược gọi là lực lượng lao ñộng. Thống nhất với quan ñiểm nêu trên về nguồn cung cấp sức lao ñộng xã hội và khái niệm NNL ñược nhóm nghiên cứu thuộc Trường ðại học Texas ñưa ra gần ñây[73], tác giả cho rằng NNL là tổng hòa năng lực xã hội của con người ñược biểu hiện ở số lượng, cơ cấu và chất lượng tương ứng với từng thời kỳ của nền kinh tế -xã hội. Nguồn nhân lực của một quốc gia, vùng lãnh thổ ñược phân biệt với khái niệm dân cư và nhân lực nói chung ở chỗ: là số nhân lực có khả năng, ñang hoặc sẵn sàng tham gia các hoạt ñộng của lực lượng sản xuất xã hội, số nhân lực này ñã trải qua ñào tạo giáo dục chung ở mức nhất ñịnh nên có khả năng và kỹ năng lao ñộng tối thiểu cần thiết và không bị hạn chế tham gia hoạt ñộng lao ñộng sản xuất bởi cơ quan có thẩm quyền.
Như vậy, NNL chỉ toàn bộ lực lượng lao ñộng xã hội có khả năng làm việc và ñóng góp vào hoạt ñộng SXKD, là lực lượng sản xuất hàng ñầu, năng ñộng và quyết ñịnh năng suất, hiệu quả trong phát triển kinh tế, ñồng thời ñóng góp vào tiến bộ xã hội.2 Nguồn nhân lực trong một tổ chức Trong Luận án, “tổ chức” ñược hiểu là một ngành, một lĩnh vực hay một doanh nghiệp. Nguồn nhân lực trong một tổ chức là toàn bộ lực lượng nhân lực, nói cách khác là lực lượng lao ñộng ñược ñặc trưng bởi quy mô, cơ cấu và chất lượng của những con người cụ thể với năng lực của mình tham gia vào 14 quá trình SXKD ở tổ chức ñó [17]. Do vậy, NNL ñược nhìn nhận mang tính tiềm năng không chỉ biểu hiện về số lượng như những nguồn lực ñơn thuần mà còn bởi sự biến ñổi, cải thiện không ngừng về chất lượng và cơ cấu. Quy mô là một khái niệm chỉ mức ñộ lớn hay bé, ít hay nhiều về mặt khối lượng, số lượng do vậy có thể ño ñếm ñược.
ðối với một tổ chức, quy mô NNL chính là số lượng nhân lực tham gia vào hoạt ñộng SXKD, tức là số lao ñộng của tổ chức ñó ở một thời kỳ nhất ñịnh. Quy mô NNL của một tổ chức hiện nay có sự khác biệt lớn. Trên thế giới ñã có những Tập ñoàn, doanh nghiệp với quy mô NNL ở mức “khổng lồ” với hàng trăm ngàn lao ñộng như Tập ñoàn FedEx có trên 210.000 lao ñộng, PepsiCo có khoảng 180.000 lao ñộng [16, tr. Ở Việt Nam hiện nay có những tập ñoàn và tổng công ty nhà nước có quy mô NNL rất lớn như: Tập ñoàn Dệt may Việt Nam có khoảng 120.000 lao ñộng; Tập ñoàn Công nghiệp Than - khoáng sản Việt Nam có trên 117.000 lao ñộng; Tập ñoàn ðiện lực Việt Nam có gần 94.000 lao ñộng [2], nhưng cũng có rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ với vài chục lao ñộng.
Cơ cấu NNL phản ánh mối quan hệ giữa các bộ phận trong tổng thể nguồn nhân lực của một tổ chức. Những mối quan hệ này bao hàm cả mặt chất lượng và số lượng phản ánh tình trạng NNL của tổ chức ở một thời ñiểm nhất ñịnh. Cơ cấu quan trọng nhất phản ánh chất lượng tổng thể của NNL ở một tổ chức là cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực hoạt ñộng, theo trình ñộ ñào tạo và năng lực theo vị trí công tác của NNL. Cùng với sự phát triển của doanh nghiệp, sự tiến bộ trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất và cơ chế quản lý, cơ cấu NNL cũng sẽ có những chuyển biến theo hướng phù hợp nhằm tăng hiệu quả sử dụng NNL và hiệu quả hoạt ñộng của doanh nghiệp.
Chất lượng NNL là một chỉ tiêu tổng hợp có ý nghĩa quyết ñịnh tới NNL và phụ thuộc nhiều yếu tố, trong ñó có 5 nhóm yếu tố cơ bản gắn liền với người lao ñộng cụ thể sau ñây: - Sức khỏe (thể lực); 15 - Trình ñộ văn hóa; - Trình ñộ chuyên môn, kỹ thuật; - Kỹ năng lao ñộng; - Nhóm các phẩm chất khác của NNL, bao gồm: ñạo ñức, thái ñộ, ý thức kỷ luật và tác phong làm việc, khả năng sáng tạo, tính thích ứng v., trong ñó tác phong lao ñộng có vai trò quan trọng ñặc biệt trong một tổ chức. Trình ñộ văn hóa, trình ñộ về chuyên môn kỹ thuật (CMKT) phản ánh kiến thức của người lao ñộng. Kiến thức cùng với kỹ năng và phẩm chất lao ñộng tạo nên năng lực làm việc và vì vậy quyết ñịnh chất lượng NNL. ðối với một tổ chức thì năng lực thực hiện công việc ở từng vị trí công tác của lực lượng lao ñộng sau tuyển dụng phản ánh chất lượng của NNL.
Nguồn nhân lực nói chung chịu tác ñộng của rất nhiều yếu tố, trong ñó các yếu tố cơ bản tác ñộng tới mặt số lượng NNL gồm dân số, mức ñộ phát triển kinh tế, môi trường xã hội. Các yếu tố tác ñộng tới mặt chất lượng và hiệu quả sử dụng NNL là: sự phát triển kinh tế - xã hội; tình trạng dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe; chất lượng giáo dục, ñào tạo và các chính sách của chính phủ. Trong một tổ chức, NNL còn chịu tác ñộng của công nghệ và trình ñộ tổ chức quản lý trong SXKD. Yếu tố ảnh hưởng ñến chất lượng NNL của một tổ chức gồm hoạt ñộng phát triển, quản lý và sử dụng NNL, môi trường làm việc, sự tác ñộng của thị trường lao ñộng CMKT ñến chuyển dịch lao ñộng, trong ñó phát triển NNL có vai trò quyết ñịnh.2 Vai trò của nguồn nhân lực trong tăng trưởng và phát triển 1.1 Khái niệm tăng trưởng và phát triển ðể phản ánh sự tiến bộ của một quốc gia hay nền kinh tế trong một giai ñoạn, người ta thường sử dụng thuật ngữ tăng trưởng và phát triển.
Tăng trưởng chỉ sự biến ñổi về lượng theo chiều hướng tăng lên, ñi lên. Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô hoặc tốc ñộ gia tăng sản lượng, có nghĩa là tăng thêm về kết quả các hoạt ñộng sản xuất vật chất và dịch vụ của nền kinh tế hay một tổ 16 chức trong một thời kỳ nhất ñịnh. Một cách tổng quát, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập trong một khoảng thời gian nhất ñịnh (thường là một năm). Sự gia tăng thể hiện ở quy mô và tốc ñộ.
Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc ñộ tăng trưởng thường ñược sử dụng với ý nghĩa so sánh tương ñối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ [60, tr. ðể ño lường sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, các chỉ tiêu phản ánh thu nhập bằng giá trị thường ñược sử dụng là tổng sản phẩm trong nước hay còn gọi là tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng thu nhập quốc dân (GNI) và ñược tính cho toàn bộ nền kinh tế hoặc tính bình quân trên ñầu người. GDP ñược hiểu là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng ñược tạo ra trong thời kỳ nhất ñịnh (còn ñược gọi là tổng giá trị gia tăng) từ các hoạt ñộng kinh tế trên phạm vi lãnh thổ một quốc gia. ðể xác ñịnh giá trị GDP có ba cách tiếp cận cơ bản là từ sản xuất, tiêu dùng và phân phối.
Từ phương diện sản xuất, GDP là tổng giá trị gia tăng (Y) từ các hoạt ñộng sản xuất và dịch vụ ñược tiếp cận trên cơ sở hạch toán các khoản chi phí các yếu tố ñầu vào, tức là chi phí trung gian (IC) và tổng giá trị sản xuất ra, tức là tổng doanh thu (GO) theo công thức sau: Tổng giá trị Tổng giá trị Chi phí Gia tăng = sản xuất - trung gian (1.2) Tốc ñộ tăng của giá trị gia tăng phản ánh tốc ñộ tăng trưởng (g) ñược tính như sau: ∆ Yt g= × 100 % (1.