CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THỰC TẬP SẢN XUẤT NGÀNH CƠ KHÍ CỦA NGƯỜI HỌC TẠI CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Năm 2019, trên 精密工学会誌 - Tạp chí cơ khí chính xác của Nhật Bản, các tác giả có nhắc đến vai trò quan trọng của việc thực hành sản xuất trong ngành cơ khí chính xác: “Hiện nay, làm thế nào để đào tạo ra được người học có đủ kỹ năng sản xuất trong ngành cơ khí chính xác được nhiều cơ sở giáo dục và doanh nghiệp quan tâm. Cơ sở giáo dục sẽ trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng sản xuất cơ bản của nghề, các doanh nghiệp sẽ đào tạo người lao động theo cách riêng của họ để phục vụ sản xuất, tạo ra sản phẩm như mong đợi trong tương lai.
Trong đó, 高専 (Kousen) - trường Cao đẳng nghề là một hệ thống giáo dục, đào tạo dựa trên tính thực hành cao trên cơ sở cho người học thực hành sản xuất và đo kiểm trên các thiết bị, máy móc hiện đại trong ngành” (SHINOZAKI, SAKAMOTO, ISHIBASHI, & NAKASHIMA, 2019). Năm 2021, Nhận định về sự đánh giá cao người học tốt nghiệp Trường 東京工業 高等専門学校 - Cao đẳng nghề Công nghiệp Tokyo của các Doanh nghiệp và các trường Đại học tại Nhật Bản (trong trường hợp người học tốt nghiệp Cao đẳng nghề Công nghiệp Tokyo có học tiếp các chương trình cao hơn), 谷合 俊一(SHUNICHI TANIAI) – Hiệu trưởng trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Tokyo sau khi tiến hành khảo sát các doanh nghiệp và trường đại học có nhận người học tốt nghiệp trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Tokyo đã phát biểu như sau: “Người học tốt nghiệp Cao đẳng nghề Công nghiệp Tokyo không chỉ tiếp thu kiến thức chuyên ngành thông qua chương trình đào tạo lý thuyết mà còn có thái độ giải quyết các vấn đề khó khăn một cách nghiêm túc và khả năng suy luận logic về quá trình giải quyết vấn đề. Bạn sẽ có được những phẩm chất và các khả năng cần thiết cho các kỹ sư và nhà nghiên cứu trong tương lai, chẳng hạn như khả năng thực thi các vấn đề một cách chính xác. Đó là 9 (1) thái độ nghiêm túc, (2) khả năng tư duy logic, và điều quan trọng hơn cả là (3) năng lực thực hành”.
(SHUNICHI TANIAI, 2021) Theo ông Shunichi thì ngoài kiến thức, thái độ, các kỹ năng mềm. thì một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá nhân sự đầu vào của các doanh nghiệp nữa là năng lực thực hành, cụ thể đối với ngành cơ khí là năng thực hành sản xuất bằng các máy móc, thiết bị phục vụ công nghiệp hiện đại. Có thể nhận thấy, với tư duy giáo dục nghề nghiệp chú trọng đào tạo kỹ năng thực hành cho học viên, Nhật Bản đã tạo ra nguồn lao động lành nghề đáp ứng được nhu cầu của Xã hội với nền công nghiệp phát triển và nhu cầu chất lượng lao động cao của mình. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Vào năm 2016, trong luận văn thạc sĩ “Công tác đào tạo nguồn nhân lực tại công ty cổ phần chứng khoán ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam” tác giả Lê Thị Mai cũng đưa ra quan điểm rất rõ ràng về tầm quan trọng của chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
Theo quan điểm của Lê Thị Mai thì thành công của doanh nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố mà trong đó chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định thành bại của doanh nghiệp. Nguồn lao động chất lượng cao được khẳng định qua quá trình đào tạo (1) đào tạo cơ bản về kiến thức, (2) trau dồi thường xuyên về đạo đức, (3) đào tạo chuyên sâu về kỹ năng nghề nghiệp. Tác giả của luận văn còn chỉ ra rằng: ”Chất lượng nguồn nhân lực là lợi thế so sánh hàng đầu của doanh nghiệp bởi vì nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ góp phần quan trọng trong việc duy trì và phát triển doanh nghiệp. Những thay đổi gần đây trong môi trường kinh doanh đã làm cho chức năng quản lý nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ các tổ chức duy trì khả năng cạnh tranh và chuẩn bị cho tương lai”.
Tác giả của luận văn cũng cho rằng đối ứng với thực trạng cạnh tranh ngày càng gay gắt của các doanh nghiệp trong và ngoài nước, yêu cầu về sản phẩm, dịch vụ của khách hàng ngày càng cao, trình độ khoa học, kỹ thuật, công nghệ ngày càng phát triển thì nền kinh tế nước nhà muốn phát triển thì cần có những doanh nghiệp lớn mạnh có nội lực, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải dựa vào nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua phương pháp đào tạo phù hợp. Như tác giả trình bày thì “Nhân viên cần được trang bị kỹ năng tinh vi hơn trong việc giải quyết vấn đề. Đào tạo nguồn 10 năng lực cho doanh nghiệp và bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có năng lực, trình độ và phẩm chất, uy tín cao sẽ góp phần tích cực nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, phát triển nhanh, bền vững và góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”. (Lê Thị Mai, 2016) Năm 2017, trong bài viết “Quản lý hoạt động thực tập nghề cho học viên ở các trường Trung cấp nghề” tác giả Ngô Thị Hằng nhận định: “Thực tập nghề là một khâu quan trọng trong quá trình đào tạo học viên ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nói chung và các trường Trung cấp nghề nói riêng, giúp học viên củng cố và bổ sung những kiến thức đã học trên lớp, nâng cao kỹ năng giải quyết các vấn đề trong thực tế, xây dựng mối quan hệ khắng khít giữa nhà trường và doanh nghiệp theo phương châm “đào tạo những gì xã hội cần”.
Bồi dưỡng cho người học lòng yêu nghề, năng lực công tác thực tế để học viên nhạy bén và năng động hơn trong quá trình làm việc sau này” (Ngô Thị Hằng, 2017). Tác giả bài viết đề cao tầm quan trọng của việc thực tập nghề nghiệp trong quá trình học, trước khi tham gia vào quá trình lao động, sản xuất trực tiếp tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Năm 2020, trong nghiên cứu “Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo nghề ở trường Cao đẳng Việt – Đức Nghệ An”, tác giả Nguyễn Khắc Toàn cho biết: “Hiện nay, đào tạo nghề thường tích hợp giữa lí thuyết và thực hành. Sự tích hợp thể hiện ở chỗ thực hiện đào tạo đòi hỏi người dạy phải vừa chuyên sâu về kiến thức, mặt khác phải thành thục về kĩ năng tay nghề từ đó truyền thụ lại cho người học; Người học trong cùng một thời điểm vừa tiếp thu kiến thức, vừa thực hiện các thao tác trong chuỗi hoạt động tạo ra, hoàn thành sản phẩm cuối cùng.
Đào tạo nghề cung cấp cho HSSV những kiến thức, kĩ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết khi còn trên ghế nhà trường. Về kiến thức, HSSV hiểu được cơ sở khoa học về vật liệu, dụng cụ, trang thiết bị, quy trình thực hiện, biện pháp tổ chức quản lý sản xuất và an toàn lao động để HSSV có thể thích ứng với thực tiễn lao động sản xuất. HSSV được trang bị kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp trong cả quá trình đào tạo như kĩ năng sử dụng công cụ hỗ trợ; gia công vật liệu; các thao tác kĩ thuật; xây dựng kế hoạch từ khối lượng công việc; tính toán, thiết kế và quan trọng nhất là khả năng ứng dụng linh hoạt vào thực tiễn. Đó là những cơ sở ban đầu hình thành kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp; phát huy tính sáng tạo và song song 11 với đó là hình thành kỉ luật, tác phong lao động cho HSSV” (Nguyễn Khắc Toàn, 2020).
Tác giả Cồ Huy Lệ (2021) trong luận án tiến sĩ “Phát triển nguồn nhân lực trình độ cao của tỉnh Nam Định trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đã đưa ra nhiều quan điểm liên quan đến vấn đề đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo đó: “Nguồn nhân lực trình độ cao trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải trở thành nhân tố then chốt góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hiện đại. Với giai đoạn hiện tại, nguồn nhân lực trình độ cao phải là những người có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ cao đẳng trở lên để có thể tiếp thu và làm chủ công nghệ tiên tiến, có năng lực hành nghề, có kỹ năng và sự sáng tạo, thích ứng trong điều kiện sản xuất công nghiệp hiện đại nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và hiệu quả lao động”. Cồ Huy Lệ cũng nêu rõ đặc điểm của nguồn nhân lực chất lượng cao bao gồm: Thứ nhất: Có trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật cao; Thứ hai: Có kỹ năng, năng lực lao động giỏi; Thứ ba: Có phẩm chất nghề nghiệp tốt.
Từ đó, tác giả của luận án cũng đưa ra những ý kiến về các vấn đề liên quan đến đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đó là: Phát triển nguồn nhân lực trình độ cao được hiểu đơn giản là quá trình làm biến đổi hoặc thực hiện các biện pháp làm chuyển biến từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao về trình độ chuyên môn kỹ thuật, năng lực, kỹ năng, thể lực và phẩm chất nghề nghiệp của nguồn nhân lực trình độ cao nhằm thành đạt các mục tiêu quản lý, sử dụng nguồn nhân lực trình độ cao cho phát triển kinh tế xã hội”. Do tính cấp thiết và tầm quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao, kỹ năng nghề nghiệp của người lao động được chú trọng trong bối cảnh xã hội phát triển như hiện tại, các đề tài nghiên cứu ở lĩnh vực này luôn được các tác giả trong và ngoài nước lựa chọn dưới nhiều góc nhìn, nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề như: đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho địa phương của Cồ Huy Lệ, đào tạo nhân sự toàn diện về kiến thức, đạo đức, và kỹ năng nghề nghiệp của Lê Thị Mai hay việc quan tâm đến hoạt động thực tập nghề cho học viên các trường Trung cấp nghề của Ngô Thị 12 Hằng. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng trống trong nghiên cứu đề tài liên quan đến nguồn nhân lực, hoạt động đào tạo nghề nghiệp, thực tập nghề nghiệp, cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội.