CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu về kĩ năng tự học của học sinh Các nghiên cứu quốc tế đã chú trọng vào việc phát triển các kỹ năng tự học của học sinh, nhấn mạnh vai trò quan trọng của khả năng học tập độc lập và tự điều chỉnh trong suốt quá trình học.
Sau đây là một số nghiên cứu của các tác giả quốc tế về kỹ năng tự học của học sinh.F (1978) cho rằng việc rèn luyện kỹ năng tự học trong thời gian học trên lớp là một phương pháp hiệu quả giúp học sinh phát huy tính tích cực và chủ động trong học tập. (2002) thực hiện nghiên cứu chuyên sâu về học tập tự điều chỉnh, trong đó ông đã chỉ ra ba yếu tố cốt lõi của kỹ năng tự học: lập kế hoạch, giám sát tiến trình học và tự đánh giá kết quả học tập. Nghiên cứu này làm rõ tầm quan trọng của việc thiết lập mục tiêu và cung cấp phản hồi trong quá trình học tự học. Nhóm tác giả Hattie, J.
(2007) đã phân tích tầm quan trọng của phản hồi trong việc nâng cao kỹ năng tự học. Họ khẳng định rằng phản hồi rõ ràng và kịp thời rất quan trọng để giúp học sinh nhận diện những điểm yếu cần cải thiện và điều chỉnh phương pháp học sao cho hiệu quả hơn. Những nghiên cứu này chỉ ra rằng kỹ năng tự học không chỉ là một yếu tố cá nhân mà còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như năng lực học tập, phản hồi và môi trường học tập. Việc rèn luyện kỹ năng tự học là yếu tố then chốt giúp học sinh đạt được thành công trong quá trình học tập dài hạn.
Tại Việt Nam, kỹ năng tự học của học sinh cũng là một chủ đề được nhiều tác giả nghiên cứu và quan tâm. Vào năm 2017, tác giả Đỗ Khánh Năm đã nghiên cứu việc phát triển kỹ năng tự học của sinh viên và đề xuất một số biện pháp cho cả giáo viên và sinh viên. Trong đó, ông nhấn mạnh các biện pháp như lập kế hoạch tự học, lựa chọn tài liệu học phù hợp, phương pháp tự học hiệu quả và tổ chức các câu lạc bộ tự học. Tác giả cho rằng việc dạy học sinh cách tự học cần được chú trọng và coi đó là một phần không thể thiếu trong chương trình đào tạo.
5 Năm 2022, Trường Thị Hồng Duyên và Đỗ Thị Phương Thảo đã tiến hành nghiên cứu thực trạng hoạt động tự học của học sinh tại các trường THPT ở Rạch Giá, Kiên Giang. Kết quả cho thấy học sinh ở đây có nhận thức tích cực và động lực tự học rõ rệt. Tuy nhiên, các hoạt động tự học chủ yếu vẫn còn hạn chế, học sinh thường chỉ học theo giáo viên mà chưa thể hiện tính chủ động và sáng tạo. Hình thức tự học chính của học sinh vẫn là học cá nhân, mặc dù có sự hợp tác với bạn bè trong quá trình học.
Phan Thị Kim Cúc và Đinh Thị Thúy Hiền (2022) nhận xét rằng kỹ năng tự học của sinh viên năm nhất khoa Ngoại ngữ, Trường Đại học Hưng Vượng khá tốt nhưng chưa thực sự hiệu quả. Các tác giả đề xuất một số giải pháp như nâng cao nhận thức của sinh viên về vai trò quan trọng của tự học, hướng dẫn sinh viên lập kế hoạch tự học và khuyến khích thói quen đọc sách cũng như tự học. Tổng quan một số nghiên cứu về dạy học kết hợp của các tác giả nước ngoài Charles R. Graham và các cộng sự (2009) đã giới thiệu khái niệm về dạy học kết hợp và nêu ra các lý do để áp dụng phương pháp này.
Các tác giả cũng chỉ ra một số thách thức và dự báo xu hướng phát triển của phương pháp dạy học kết hợp. Trong đó, lý do quan trọng nhất là việc sử dụng dạy học kết hợp nhằm cải cách phương pháp giảng dạy, tăng tính linh hoạt, mở rộng cơ hội học tập và giảm chi phí đào tạo [16]. Barbour cùng các cộng sự (2011) chỉ ra rằng mô hình học kết hợp đã được triển khai rộng rãi ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở Mỹ, Canada, Ấn Độ, New Zealand và các quốc gia châu Âu. Các quốc gia này áp dụng đồng thời cả phương thức học trực tiếp và học trực tuyến trong các mô hình giáo dục của mình.
Theo Osguthorpe và Graham (2013), có sáu lý do chủ yếu để thiết kế hoặc áp dụng dạy học kết hợp, bao gồm: (1) sự phong phú trong phương pháp giảng dạy; (2) dễ dàng tiếp cận kiến thức; (3) tăng cường tương tác xã hội; (4) sự xã hội hóa người học; (5) tiết kiệm chi phí; và (6) dễ dàng điều chỉnh phương pháp dạy học [17]. Về mô hình dạy học tích hợp, Michael B. Horn (2014) đã đưa ra bốn mô hình phổ biến: mô hình chuyển giao, mô hình linh hoạt, mô hình A La Carte và mô hình lớp học nâng cao. Các mô hình này có thể được áp dụng, thiết kế và triển khai trong giáo dục trong tương lai [18].
6 Nghiên cứu của Phillip Bitzer, Matthias Sollner và Ján Marco Leimeister (2015) về quy trình dạy học tích hợp đã đề xuất các bước cụ thể như sau: giới thiệu mục tiêu môn học, tìm hiểu nội dung lớp học, hiểu các mục tiêu học tập trực tuyến, thực hiện và thảo luận, và cuối cùng là đánh giá kết quả học tập của cả giáo viên và học sinh [19]. Halverson và Charles R. Graham (2019) chỉ ra rằng từ năm 2007 đến 2017, các khóa học dạy học kết hợp đã gia tăng đáng kể, đặc biệt là trong hệ thống giáo dục K-12 (hệ thống học trực tuyến của Mỹ và các quốc gia Bắc Mỹ, châu Âu, châu Á,. Tại Mỹ, số lượng học sinh tham gia học kết hợp đã tăng mạnh từ 45.000 học sinh lên 4 triệu học sinh từ năm 2000 đến 2010 [20].
Tóm lại, các nghiên cứu trên cho thấy dạy học kết hợp có tiềm năng lớn trong việc cải thiện kết quả học tập, tăng cường sự tương tác giữa học sinh và phát triển kỹ năng tự học. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả cao, cần có sự thiết kế chương trình học hợp lý, hỗ trợ công nghệ tốt và sự tham gia tích cực của cả giáo viên và học sinh. Tổng quan một số nghiên cứu về dạy học kết hợp của các tác giả trong nước Ở Việt Nam, khái niệm dạy học kết hợp vẫn còn khá mới mẻ. Theo Nguyễn Danh Nam (2007), việc kết hợp giữa dạy học E-learning và dạy học trực tiếp mang lại một giải pháp hiệu quả, cụ thể là xây dựng mô hình học tập "Blended Learning" [12].
Trong bài viết "Dạy học tương tác trong học tập tổng hợp cho sinh viên sư phạm công nghệ thông tin" của tác giả Nguyễn Thế Dũng xuất bản năm 2018, cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đào tạo dạy học tương tác của giáo viên khoa học máy tính đã được trình bày. Tác giả nhấn mạnh rằng việc kết hợp quá trình dạy học, thiết kế và các biện pháp dạy học tương tác có thể giúp nâng cao chất lượng đào tạo. Nguyễn Đoàn Thanh Trúc và Phan Gia Anh Vũ (2019) đã thực hiện nghiên cứu thực nghiệm về việc áp dụng dạy học kết hợp với sự hỗ trợ của Google Classroom trong dạy học môn Vật lý. Kết quả cho thấy dạy học kết hợp mang lại hiệu quả tích cực, đồng thời kỹ năng tự học của học sinh được cải thiện rõ rệt qua từng bài học trong chương trình [15].
7 Nghiên cứu của Đặng Thị Thu Huệ, Đào Ngọc Chính, Nguyễn Thị Quế, Kiều Thu Linh, Nguyễn Thị Quỳnh Ngoan và Nguyễn Sỹ Nam (2022) cho thấy, phần lớn các trường THCS chỉ thực hiện dạy học kết hợp một cách không đều đặn. Tỷ lệ trường chưa bao giờ thực hiện dạy học kết hợp tương đối cao, từ 17,1% đến 34,7%. Tỷ lệ trường thực hiện dạy học kết hợp thường xuyên rất thấp, chỉ dưới 1,3%. Hầu hết các mô hình dạy học kết hợp tại các trường được tổ chức với tần suất không cao và không đồng đều [6].
Từ các nghiên cứu trên, có thể kết luận rằng dạy học kết hợp đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia và mang lại nhiều lợi ích cho cả giáo viên và học sinh. Mô hình này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả học tập mà còn hỗ trợ học sinh phát triển kỹ năng tự học, tư duy sáng tạo và khả năng giao tiếp. Tuy nhiên, để đạt được thành công, cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và hỗ trợ từ phía nhà trường cũng như các yếu tố bên ngoài khác. Các nghiên cứu về dạy học kết hợp trong môn Toán Toán học là một môn học đòi hỏi người học cần phải nghiên cứu, tìm tòi và luyện tập thường xuyên, liên tục.
Vì vậy, việc áp dụng dạy học kết hợp trong giảng dạy môn Toán là rất cần thiết, đặc biệt ở cấp THCS, khi học sinh đã có tiếp xúc với Internet từ rất sớm. Nhóm tác giả Nguyễn Trường Hiếu, Đỗ Hằng Nga, Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Lê Thị Khánh Hằng, Nguyễn Tuấn Hải, Đỗ Phương Nhi, Nguyễn Đặng Hoàng (2018) đã nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục Toán học gắn liền với thực tiễn dạy học kết hợp, đồng thời đề xuất quy trình dạy học kết hợp theo tiếp cận RME trong dạy học môn Toán ở trường trung học. Nhóm nghiên cứu cũng đã triển khai xây dựng các vấn đề trong thực tiễn gắn liền với các mô hình học không gian để áp dụng, nhằm phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh, xây dựng kế hoạch dạy học và triển khai thực nghiệm [5]. Nguyễn Thị Bích Ngọc (2019) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của dạy học kết hợp đối với kết quả học tập môn Toán tại một số trường học.
Kết quả nghiên cứu cho thấy dạy học kết hợp không chỉ nâng cao hiệu quả học tập mà còn giúp học sinh rèn luyện kỹ năng tự học và hợp tác. 8 Đỗ Minh Hải (2023) đã tìm hiểu về lợi ích của hoạt động nhóm đối với dạy học kết hợp trong môn Toán. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc hoạt động nhóm không chỉ nâng cao kết quả học tập môn Toán mà còn cải thiện kỹ năng làm việc nhóm và giao tiếp của học sinh. Như vậy, qua các nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy rằng các nghiên cứu về dạy học kết hợp trong môn Toán tại Việt Nam cho thấy mô hình này có thể mang lại nhiều lợi ích cho việc cải thiện kết quả học tập và rèn luyện kỹ năng cho học sinh.
Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả tốt, cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nội dung, phương pháp và sự hỗ trợ từ công nghệ thông tin.