Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh giáo dục thế kỷ 21 – thời kỳ bùng nổ tri thức khoa học và công nghệ thông tin, xu hướng giáo dục chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình truyền thụ kiến thức thụ động sang mô hình giáo dục định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học. Tại Việt Nam, Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định rõ nhiệm vụ: chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; rèn luyện và phát triển khả năng tự học năng động, độc lập và sáng tạo ngay trong quá trình học tập. Định hướng này tiếp tục được thể chế hóa qua các văn bản pháp lý như Thông tư số 22 và Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó năng lực tự chủ và tự học được xác định là một trong những năng lực chung cốt lõi hàng đầu cần hình thành cho học sinh tiểu học.

Cấp tiểu học đóng vai trò nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, thiết lập cơ sở ban đầu cho sự phát triển trí tuệ, nhân cách và phương pháp học tập của học sinh. Ở lứa tuổi 6–11, học sinh chưa có nhiều thói quen tự học độc lập, làm việc với tài liệu và sách giáo khoa; hoạt động học tập phần lớn phụ thuộc vào sự hướng dẫn của giáo viên và phụ huynh. Trong chương trình Tiểu học, môn Khoa học lớp 5 giữ vị trí quan trọng, đặc biệt là chủ đề "Vật chất và Năng lượng". Hệ thống kiến thức của chủ đề này rất phong phú, đa dạng, gắn liền trực tiếp với đời sống thực tiễn và giải thích nhiều hiện tượng tự nhiên xung quanh học sinh. Tuy nhiên, việc tổ chức dạy học để phát huy tính tích cực, tự giác và hình thành năng lực tự học của học sinh đối với chủ đề này trong thực tế vẫn còn nhiều hạn chế. Xuất phát từ bối cảnh đó, đề tài "Nâng cao khả năng tự học cho học sinh lớp 5 qua giảng dạy chủ đề 'Vật chất và Năng lượng' môn Khoa học" (tên tiếng Anh: "Improving students' self-study ability through teaching the topic 'Material and Energy' in Grade 5 Science") được sinh viên Bùi Thị Phương Thảo thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Ngọc Sơn và ThS. Trịnh Phan Thị Phong Lan tại Trường Đại học Thủ đô Hà Nội (2023).

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận và khảo sát thực trạng rèn luyện khả năng tự học của học sinh lớp 5 trong môn Khoa học, từ đó đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua việc dạy học chủ đề "Vật chất và Năng lượng".

Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về rèn luyện khả năng tự học cho học sinh trong dạy học môn Khoa học lớp 5.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng rèn luyện khả năng tự học của học sinh lớp 5 trong môn Khoa học tại trường tiểu học.
  3. Đề xuất một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh qua dạy học chủ đề "Vật chất và Năng lượng" trong chương trình Khoa học lớp 5.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình phát triển năng lực trong dạy học môn Khoa học ở trường tiểu học.
  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua dạy học chủ đề "Vật chất và Năng lượng" môn Khoa học lớp 5.
  • Phạm vi nội dung: Nội dung chủ đề "Vật chất và Năng lượng" trong chương trình Khoa học lớp 5.
  • Phạm vi khảo sát thực tiễn: Khảo sát trên 200 học sinh (thuộc 5 lớp: 5A1, 5A2, 5A3, 5A4, 5A5) và 5 giáo viên chủ nhiệm/giảng dạy lớp 5 tại Trường Tiểu học Nghĩa Dũng, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội vào tháng 5 năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về cơ sở lý thuyết, tác giả tổng hợp và phân tích các quan niệm khoa học về năng lực và năng lực tự học từ các nghiên cứu quốc tế và trong nước:

  • Khái niệm năng lực: Trích dẫn định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, Howard Gardner (1999) về tính đo lường được của năng lực thông qua kết quả hoạt động, Weiner (2001), OECD (2002) về khả năng đáp ứng các yêu cầu phức tạp trong bối cảnh cụ thể, và PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Phương (2007) với khung 4 nhóm năng lực học sinh (năng lực nhận thức, năng lực xã hội, năng lực thực tiễn, năng lực cá nhân).
  • Khái niệm và cấu trúc năng lực tự học: Dựa trên nghiên cứu của Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức (1998), GS. Nguyễn Cảnh Toàn, PGS.TS. Lê Công Triêm (2000), Đặng Thành Hưng; quan điểm về tự định hướng học tập (Self-directed learning) của Malcolm Knowles, Candy, Stephen, và Taylor. Theo đó, năng lực tự học được hiểu là khả năng người học độc lập, tự giác xác định mục tiêu học tập, lập kế hoạch, triển khai kế hoạch, tự kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh quá trình học nhằm chiếm lĩnh tri thức và phát triển kỹ năng.

Cấu trúc năng lực tự học được tác giả hệ thống hóa thành 5 thành tố cơ bản:

  1. Xác định động cơ, mục đích tự học (sự tò mò, hứng thú, khát khao hiểu biết, kiên trì vượt khó).
  2. Xác định nội dung tự học (nhận diện kiến thức, kỹ năng cần học và huy động vốn kiến thức nền tảng đã biết).
  3. Lập kế hoạch tự học (lựa chọn phương pháp học, xây dựng thời gian biểu, phân bổ thời gian).
  4. Thực hiện kế hoạch tự học (làm việc với tài liệu/sách giáo khoa, phương tiện thiết bị, tương tác với người hỗ trợ, trình bày kết quả).
  5. Đánh giá và điều chỉnh hoạt động tự học (tự đánh giá kết quả, nhận diện hạn chế và điều chỉnh kế hoạch).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp hai nhóm phương pháp chính:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích và tổng hợp lý thuyết, phân loại và hệ thống hóa các nguồn tài liệu, sách báo, tạp chí khoa học và chương trình giáo dục tiểu học nhằm thiết lập khung lý luận.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Anket): Sử dụng phiếu khảo sát dành cho 200 học sinh và phiếu lấy ý kiến dành cho 5 giáo viên lớp 5 tại Trường Tiểu học Nghĩa Dũng (Ba Đình, Hà Nội).
    • Phương pháp thống kê toán học: Xử lý, tính toán tỉ lệ phần trăm và giá trị điểm trung bình (Mean theo thang điểm 5) để phân tích mức độ biểu hiện từng thành phần năng lực tự học của học sinh và nhận thức của giáo viên.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực tự học của học sinh tiểu học

Chương I tập trung làm rõ các vấn đề lý luận về năng lực, cấu trúc năng lực tự học, đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học, cấu trúc chương trình chủ đề "Vật chất và Năng lượng", cùng kết quả khảo sát thực trạng.

Về đặc điểm tâm lý học sinh lớp 5, tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tự học:

  • Xúc cảm, tình cảm: Dễ nảy sinh hứng thú với các hiện tượng trực quan, sinh động; tình cảm chưa thực sự bền vững nên cần được củng cố liên tục qua thực hành.
  • Tính cách: Còn có phần bột phát, ý chí điều chỉnh hành vi đang trong giai đoạn hình thành.
  • Tư duy: Bắt đầu chuyển từ tư duy trực quan hình ảnh sang tư duy phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, biết phân loại khái niệm dựa trên dấu hiệu bản chất.
  • Tri giác, tưởng tượng và trí nhớ: Tri giác gắn liền với hành động thao tác trên vật thật; tưởng tượng gắn với thực tế khoa học; trí nhớ chuyển dần từ ghi nhớ máy móc trực quan sang ghi nhớ logic - ngôn ngữ có hệ thống.

Về nội dung chương trình môn Khoa học lớp 5, chủ đề "Vật chất và Năng lượng" gồm 25 bài học, phân bổ cụ thể:

  • Đặc điểm và công dụng của một số vật liệu thường dùng (11 tiết, từ bài 22 đến bài 32: tre, mây, song; sắt, gang, thép; đồng; nhôm; đá vôi; gạch, ngói; xi măng; thủy tinh; cao su; chất dẻo; tơ sợi).
  • Sự biến đổi của chất (5 tiết, từ bài 35 đến bài 38: sự chuyển thể, hỗn hợp, dung dịch, sự biến đổi hóa học).
  • Sử dụng năng lượng (9 tiết, từ bài 40 đến bài 50: năng lượng mặt trời, chất đốt, gió và nước chảy, điện, lắp mạch điện đơn giản, an toàn và tiết kiệm điện).

Về kết quả khảo sát thực trạng tại Trường Tiểu học Nghĩa Dũng (tháng 5/2023):

  • Đối với học sinh (N = 200):
    • Hứng thú với môn Khoa học: 65% rất thích (130 HS), 17,5% thích (35 HS), 12,5% không thích lắm (25 HS), 5% không thích (10 HS).
    • Thái độ đối với tự học Khoa học: 57,5% rất hứng thú muốn tìm hiểu (115 HS), 32% hứng thú (64 HS), 6,5% thấy lạ nhưng không muốn tìm hiểu (13 HS), 4% không hứng thú (8 HS).
    • Tần suất tự học Khoa học: 17% thường xuyên (34 HS), 70,5% thỉnh thoảng (141 HS), 12,5% chưa bao giờ (25 HS).
    • Điểm trung bình đánh giá các kỹ năng thành phần tự học của học sinh (thang 5):
Mã tiêu chí Nội dung đánh giá thành phần năng lực tự học Điểm trung bình (Mean)
Q1 Xác định động cơ, mục đích tự học môn Khoa học
Q1.1 Mong muốn tự học hàng ngày để nâng cao hiểu biết Khoa học 2,96
Q1.2 Kiên trì và suy nghĩ tích cực vượt khó khăn khi tự học 2,32
Q2 Xác định nội dung tự học môn Khoa học
Q2.1 Tự xác định kiến thức, kỹ năng cần tự học sau mỗi bài 3,18
Q2.2 Nhận diện kiến thức, kỹ năng đã có liên quan đến bài tự học 3,31
Q3 Lập kế hoạch tự học môn Khoa học
Q3.1 Thường xuyên lập thời gian biểu tự học 2,22
Q3.2 Lựa chọn phương pháp tự học hiệu quả (đọc, thực hành, ghi chép...) 2,32
Q4 Thực hiện kế hoạch tự học môn Khoa học
Q4.1 Thường xuyên đọc sách và khai thác tài liệu tự học 2,44
Q4.2 Xác định phương tiện, thiết bị phục vụ tự học 2,77
Q4.3 Nhận sự hỗ trợ, hướng dẫn từ giáo viên, phụ huynh, bạn bè 3,84
Q4.4 Trình bày, thể hiện kết quả tự học 2,58
Q5 Điều chỉnh và đánh giá hoạt động tự học môn Khoa học
Q5.1 Tự đánh giá kết quả tự học 2,59
Q5.2 Đề ra biện pháp và điều chỉnh quá trình tự học 2,60
  • Đối với giáo viên (N = 5):
    • Nhận thức về tầm quan trọng của năng lực tự học: 80% (4 GV) đánh giá rất quan trọng, 20% (1 GV) đánh giá quan trọng.
    • Mức độ tổ chức hoạt động rèn luyện tự học: 60% thường xuyên quan tâm, 40% quan tâm.
    • Đánh giá tầm quan trọng của các thành phần năng lực tự học (thang điểm 5): Lập kế hoạch tự học (4,2); Thực hiện kế hoạch tự học (3,8); Xác định nội dung tự học (3,6); Xác định động cơ, mục đích tự học (3,4); Điều chỉnh và đánh giá hoạt động tự học (3,4).

Chương II: Một số giải pháp nâng cao khả năng tự học cho học sinh qua dạy học chủ đề "Vật chất và Năng lượng" môn Khoa học lớp 5

Tác giả đề xuất 5 nguyên tắc sư phạm làm cơ sở định hướng xây dựng các biện pháp:

  1. Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục.
  2. Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng.
  3. Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa tính đồng loạt và tính phân hóa.
  4. Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa tính khả thi và yêu cầu phát triển.
  5. Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa vai trò chủ đạo của giáo viên và tính tự giác, tích cực, chủ động của học sinh.

Trên cơ sở các nguyên tắc, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp cụ thể:

Nhóm giải pháp 1: Nâng cao động cơ và mục đích tự học cho học sinh qua chủ đề "Vật chất và Năng lượng"

  • Giáo viên không áp đặt mà khơi gợi nhu cầu nhận thức bên trong của học sinh thông qua việc thiết kế các nhiệm vụ học tập có tính khám phá, gắn liền thực tiễn.
  • Sử dụng phiếu tự học tại nhà (Self-study sheet) nhằm định hướng mục tiêu nhận thức trước hoặc sau bài học. Ví dụ trong bài Hỗn hợp (Khoa học 5), phiếu tự học định hướng học sinh trả lời 3 câu hỏi: "Bạn có biết thế nào là hỗn hợp?", "Bạn đã từng nhìn thấy hỗn hợp ở đâu trong đời sống?", "Hãy làm một thí nghiệm nhỏ về hỗn hợp".
  • Rèn luyện cho học sinh thói quen tự vấn thông qua hệ thống 4 câu hỏi định hướng động cơ: Học để làm gì? (Mục đích); Học cái gì? (Nội dung/Động cơ); Vì sao phải học? (Nhu cầu); Học như thế nào? (Thái độ và phương pháp).

Nhóm giải pháp 2: Rèn luyện một số kỹ năng tự học cho học sinh qua chủ đề "Vật chất và Năng lượng"

  • Rèn luyện kỹ năng lập kế hoạch tự học: Hướng dẫn học sinh xây dựng thời gian biểu cá nhân, xác định mục tiêu học tập theo từng chương/bài, phân bổ thời gian hợp lý giữa học tập bắt buộc và tự khám phá, đánh dấu bài học cần chuẩn bị và nhiệm vụ cần hoàn thành.
  • Rèn luyện kỹ năng tiếp cận và xử lý thông tin: Hướng dẫn học sinh chủ động đọc sách giáo khoa, tra cứu tài liệu tham khảo, khai thác internet an toàn, tiến hành thí nghiệm đơn giản tại nhà với các vật liệu tái chế hoặc đồ dùng quen thuộc, ghi chép tóm tắt nội dung bằng sơ đồ từ khóa hoặc kiến thức trọng tâm.
  • Thiết kế giáo án minh họa ứng dụng các biện pháp rèn luyện năng lực tự học trong dạy học các bài cụ thể thuộc chủ đề "Vật chất và Năng lượng".

Chương III: Kết luận và khuyến nghị

Khái quát lại các kết quả nghiên cứu đã đạt được của đề tài, khẳng định tính khả thi của hệ thống biện pháp đề xuất và đưa ra các khuyến nghị đối với nhà trường, giáo viên trong việc triển khai dạy học phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học.

Kết quả và đóng góp

Về mặt dữ liệu thực tiễn, khóa luận đã phản ánh bức tranh thực trạng về năng lực tự học của học sinh lớp 5 tại địa bàn khảo sát:

  • Học sinh có thái độ và hứng thú cao với môn Khoa học (trên 80% thích học môn học; 89,5% thể hiện thái độ tích cực với việc tự học), tuy nhiên tần suất tự học thực tế còn thấp (chỉ 17% thường xuyên tự học, 70,5% chỉ thỉnh thoảng tự học).
  • Điểm đánh giá các kỹ năng tự học thành phần cho thấy học sinh còn yếu nhất ở kỹ năng lập kế hoạch tự học (Mean = 2,22), tính kiên trì vượt khó (Mean = 2,32), kỹ năng lựa chọn phương pháp tự học (Mean = 2,32) và kỹ năng đọc/khai thác tài liệu (Mean = 2,44). Học sinh phụ thuộc chủ yếu vào sự giúp đỡ, hướng dẫn từ bên ngoài (Mean nhận hỗ trợ = 3,84).
  • Giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng của tự học (100% đánh giá quan trọng và rất quan trọng), nhưng việc tổ chức rèn luyện kỹ năng tự học còn thiên về nội dung hơn là hình thành phương pháp và cấu trúc năng lực tự chủ cho học sinh.

Về mặt giải pháp và đóng góp sư phạm:

  • Hệ thống hóa cấu trúc 5 thành tố của năng lực tự học phù hợp với học sinh tiểu học và yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
  • Đề xuất 5 nguyên tắc chỉ đạo sư phạm và các giải pháp thực tiễn gắn trực tiếp với 25 bài học thuộc chủ đề "Vật chất và Năng lượng" môn Khoa học lớp 5.
  • Cung cấp công cụ dạy học cụ thể như mẫu Phiếu tự học tại nhà (bài Hỗn hợp), quy trình hướng dẫn học sinh lập kế hoạch học tập cá nhân và hệ thống câu hỏi định hướng tư duy tự học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi khảo sát: Số liệu thực trạng mới được thu thập trên mẫu khảo sát gồm 200 học sinh và 5 giáo viên tại một trường tiểu học (Trường Tiểu học Nghĩa Dũng, quận Ba Đình, Hà Nội) vào thời điểm kết thúc năm học (tháng 5/2023), chưa mở rộng đối chiếu trên các trường thuộc khu vực địa bàn khác nhau.
  • Hạn chế về điều kiện thực hiện: Tác giả tự nhận định do hạn chế về thời gian nghiên cứu và năng lực bản thân, khóa luận chưa thể tiến hành thực nghiệm sư phạm đối chứng diện rộng để lượng hóa mức độ tăng trưởng năng lực tự học của học sinh trước và sau khi áp dụng giải pháp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát thực trạng; triển khai thực nghiệm sư phạm đồng bộ với các bài dạy minh họa trong toàn bộ chủ đề "Vật chất và Năng lượng" cũng như các chủ đề khác của môn Khoa học lớp 5; xây dựng bộ tiêu chí và thang đo đánh giá chuẩn hóa mức độ phát triển năng lực tự học của học sinh tiểu học.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm khi nghiên cứu phương pháp dạy học môn Khoa học và phương pháp phát triển năng lực người học.
  • Giáo viên tiểu học đang giảng dạy môn Khoa học lớp 5, cung cấp định hướng thiết kế phiếu học tập, cách thức rèn luyện kỹ năng lập kế hoạch học tập và khai thác tài liệu cho học sinh.
  • Các nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý giáo dục quan tâm đến việc cụ thể hóa yêu cầu cần đạt về năng lực tự chủ và tự học theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 vào từng môn học cụ thể.

Câu hỏi thường gặp

1. Khảo sát thực trạng trong khóa luận được thực hiện trên mẫu đối tượng nào và vào thời gian nào?
Khảo sát được thực hiện trên 200 học sinh thuộc 5 lớp (5A1: 44 HS, 5A2: 41 HS, 5A3: 41 HS, 5A4: 40 HS, 5A5: 34 HS) và 5 giáo viên chủ nhiệm/giảng dạy lớp 5 tại Trường Tiểu học Nghĩa Dũng, quận Ba Đình, Hà Nội vào tháng 5 năm 2023.

2. Kết quả khảo sát cho thấy kỹ năng tự học nào của học sinh lớp 5 có điểm đánh giá thấp nhất?
Kỹ năng lập thời gian biểu tự học thường xuyên (tiêu chí Q3.1) đạt điểm trung bình thấp nhất với Mean = 2,22/5; tiếp theo là tính kiên trì vượt khó khi tự học (Q1.2) và lựa chọn phương pháp tự học hiệu quả (Q3.2) cùng đạt Mean = 2,32/5.

3. Tác giả cấu trúc năng lực tự học của học sinh tiểu học gồm những thành tố nào?
Năng lực tự học được cấu trúc thành 5 thành tố: (1) Xác định động cơ, mục đích tự học; (2) Xác định nội dung tự học; (3) Lập kế hoạch tự học; (4) Thực hiện kế hoạch tự học; (5) Điều chỉnh và đánh giá hoạt động tự học.

4. Chủ đề "Vật chất và Năng lượng" trong chương trình Khoa học lớp 5 gồm bao nhiêu bài và phân bổ như thế nào?
Chủ đề gồm 25 bài học, chia thành 3 mảng nội dung: 11 bài về đặc điểm và công dụng của một số vật liệu thường dùng (bài 22–32), 5 bài về sự biến đổi của chất (bài 35–38 và ôn tập học kỳ I), và 9 bài về sử dụng năng lượng (bài 40–50).

5. Ví dụ minh họa nào được tác giả sử dụng để rèn luyện động cơ tự học tại nhà cho học sinh?
Tác giả thiết kế mẫu Phiếu tự học tại nhà cho bài Hỗn hợp (Khoa học 5) với 3 nhiệm vụ: tìm hiểu khái niệm hỗn hợp, liên hệ các hỗn hợp trong đời sống thực tế, và tự tiến hành một thí nghiệm đơn giản về hỗn hợp.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Phương Thảo đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về cấu trúc năng lực tự học ở lứa tuổi tiểu học và đánh giá chi tiết thực trạng tự học môn Khoa học của học sinh lớp 5 tại Trường Tiểu học Nghĩa Dũng, Hà Nội. Các số liệu khảo sát cho thấy khoảng cách rõ rệt giữa hứng thú học tập và kỹ năng lập kế hoạch, tự học thực tế của học sinh. Trên cơ sở đó, 5 nguyên tắc sư phạm và hệ thống giải pháp nâng cao động cơ, rèn luyện kỹ năng lập kế hoạch và tiếp cận thông tin gắn với chủ đề "Vật chất và Năng lượng" đã được đề xuất một cách có căn cứ khoa học, đóng góp tài liệu thực tiễn phục vụ đổi mới phương pháp dạy học tiểu học.