Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của trí tuệ, mà trí tuệ sáng tạo là hoạt động trí não cao nhất của con người, có vai trò quyết định đối với quá trình tiến hoá và phát triển của xã hội loài người. Chính vì vậy, có rất nhiều thành tựu trong và ngoài nước đã nghiên cứu về TDST. Ngay từ năm 1950, nhà nghiên cứu người Mỹ Guilford J.
đã bắt đầu nghiên cứu một cách có hệ thống về sáng tạo dưới góc nhìn Tâm lí học. Ông đặt ra nhiều vấn đề xoay quanh thực trạng nghiên cứu về sáng tạo, hoạt động sáng tạo và đề cập thêm về hướng nghiên cứu, thách thức của việc phát triển khả năng sáng tạo, cách thức sáng tạo của con người. Những câu hỏi mà Guilford J. đặt ra cũng chính là những vấn đề trọng tâm mà Tâm lí học sáng tạo phải quan tâm, giải quyết.
Có thể phát hiện tiềm năng sáng tạo hay không? Phát triển khả năng ấy bằng cách nào, phát triển đến mức nào?. Bên cạnh đó, Guilford J. vẫn tiếp tục nghiên cứu các đặc điểm và năng lực của TDST bao gồm: Tính lưu loát, tính mềm dẻo, tính chi tiết, tính độc đáo, tính nhạy cảm vấn đề và sự định nghĩa lại. ([8]; [14]) Trong cuốn Dimensions of Creativity, Boden M.
và các cộng sự của ông đã chứng minh rằng sự sáng tạo không chỉ thách thức những ý tưởng mới mà còn được một số nhóm xã hội có liên quan chấp nhận. Mặc dù một số ý tưởng mới có thể nảy sinh các hiệp hội mới, những ý tưởng được tạo ra bằng cách khai thác các đặc điểm cấu trúc của một không gian khái niệm hiện có. Động lực mạnh mẽ thường thúc đẩy những người sáng tạo và những người đánh giá và duy trì công việc của họ. đã chỉ ra rằng: “Sáng tạo là một tính năng cơ bản của trí tuệ con người và là thách thức đối với trí tuệ nhân tạo.
Kỹ thuật trí tuệ nhân tạo có thể được sử dụng để tạo ra các ý tưởng mới theo ba cách: bằng cách tạo ra các kết hợp mới lạ của các ý tưởng quen thuộc; bằng cách khám phá tiềm năng của không gian khái niệm; và bằng cách thực hiện các phép biến đổi cho phép thế hệ ý tưởng trước đây không thể. ([19]; [20]) Bên cạnh đó, người được biết đến nhiều nhất nhờ nghiên cứu về sáng tạo đó là nhà nghiên cứu Torrance E. Trong cuốn sách Guiding Creative Talent.P đã cố gắng cho biết lý do tại sao chúng ta nên quan tâm đến việc hướng dẫn hiệu quả 5 các cá nhân sáng tạo. Ông cũng đã cố gắng để mô tả bản chất của nhu cầu, hướng dẫn độc đáo của các cá nhân sáng tạo.
Ông đã xem xét một số định nghĩa về TDSTvà chỉ ra một số các biện pháp liên quan đến khả năng TDSTvà đặc điểm của tính cách sáng tạo. [27] Ở lĩnh vực văn học nghệ thuật, Naudrop M. đã chia Tưởng tượng sáng tạo của người nghệ sỹ thành 3 mức độ khác nhau: tưởng tượng hoang đường, nhân cách hóa và nhập thân. Khi có đủ ba điều kiện này, trí tưởng tượng bắt đầu hoạt động và người nghệ sỹ sẽ hóa thân vào nhân vật của mình để sáng tạo.
Như vậy, cái đích cuối cùng trong tưởng tượng sáng tạo của người nghệ sỹ là tạo ra các hình tượng nghệ thuật. Chính nhờ có tưởng tượng và thông qua tưởng tượng mà toàn bộ các hình tượng nghệ thuật tồn tại trong các tác phẩm đã đạt đến trình độ của sự tưởng tượng khái quát, tạo nên cái riêng, cái độc đáo của từng nhân cách sáng tạo và mang tính khác lạ so với thế giới hiện thực. [26] Trong nghiên cứu của Jacques Grégoire, dưới góc độ toán học ông cho rằng: Sáng tạo toán học bắt nguồn từ khả năng trí tuệ và đặc điểm tính cách của mỗi cá nhân, trong đó sự trực tiếp trong giáo dục chỉ là vừa phải. Tuy nhiên, giáo dục có thể có nhiều hơn trong ba thành phần quan trọng của sự sáng tạo: chuyên môn, suy nghĩ ban đầu và động lực nội tại, nền tảng tiềm năng sáng tạo cá nhân.
Ở trường học, sự phát triển của HS sáng tạo tiềm năng nên bắt đầu từ GV giáo dục toán học. Chỉ có chuyên gia và GV sáng tạo có thể cung cấp môi trường phù hợp để phát triển HS sáng tạo. [25] Cũng nghiên cứu về cấu trúc năng lực tư duy toán học của HS, nhà nghiên cứu Krutecki V.A cho rằng, năng lực toán học của HS cần được hiểu theo hai mức độ. Thứ nhất, là năng lực đối với việc học toán, nắm một cách nhanh và tốt các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng của chương trình toán học ở trường phổ thông.
Thứ hai, là năng lực đối với hoạt động sáng tạo toán học, tạo ra những kết quả mới và có giá trị đối với loài người. Ông cho rằng mặc dù năng lực tư duy toán học được hiểu theo hai mức độ nhưng không có một sự ngăn cách tuyệt đối giữa hai mức độ hoạt động toán học đó. Khi nói đến năng lực học tập toán cũng chính là đề cập đến năng lực sáng tạo.J nêu quan điểm về dạy toán thông qua sáng tạo như sau: “Sự sáng tạo trong lớp học không dễ đến với mọi GV hay thậm chí là mọi HS. Các trang bài tập về nhà hàng ngày, các câu đố và bài kiểm tra từ các nhà xuất bản chương trình giảng dạy chắc chắn đã sẵn sàng để sao chép và dễ dàng cho điểm.
Như vậy, các GV nắm bắt cách tiếp cận sáng tạo trong giáo dục toán học sẽ cần các tài liệu và đồ dùng cũng như một hệ thống chấm điểm đáng tin cậy để đánh giá công bằng của HS. GV cũng sẽ cần các bài thuyết trình và cố vấn phát triển chuyên nghiệp để thực hiện khái niệm lớp học sáng tạo. Tuy nhiên, việc cung cấp một môi trường kiên nhẫn và dễ tiếp thu, trong đó HS có thể tìm thấy vẻ đẹp trong toán học theo cách riêng của họ sẽ rất xứng đáng với thời gian, công sức và tiền bạc”. [21] Còn ở Việt Nam, những nghiên cứu liên quan đến khoa học về lĩnh vực sáng tạo mới thật sự bắt đầu vào thập kỉ 70 của thế kỷ XX.
Và cũng có nhiều nhà khoa học quan tâm đến vấn đề này, có thể kể ra một số nhà nghiên cứu tiêu biểu như: Hoàng Chúng, Nguyễn Huy Tú, Nguyễn Cảnh Toàn, Phan Dũng, … Năm 1964, tác giả Hoàng Chúng đã xuất bản cuốn sách “Rèn luyện khả năng sáng tạo toán học ở nhà trường phổ thông”. Trong cuốn sách này tác giả đã tập trung nghiên cứu vấn đề rèn luyện cho HS phát triển các phương pháp suy nghĩ cơ bản trong sáng tạo toán học như: đặc biệt hóa, tổng quát hóa, tương tự hóa. Ông cho rằng các phương pháp này có thể vận dụng trong giải toán để mò mẫm, dự đoán kết quả, tìm ra phương hướng giải toán, để mở rộng, đào sâu và hệ thống hóa kiến thức và giúp ta thấy được sợi dây liên hệ giữa nhiều vấn đề khác nhau và giúp phát triển TDST của chính chủ thể. [24] Trong cuốn “Tâm lý học sáng tạo” tác giả Nguyễn Huy Tú cũng tập trung vào các vấn đề chung của sáng tạo: Tác giả đã đặt ra vấn đề nghiên cứu thế nào là sáng tạo? Quá trình sáng tạo và sản phẩm sáng tạo như thế nào? [34] Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Cảnh Toàn trong tập “Tập cho HS giỏi toán làm quen dần với nghiên cứu toán học” đã đặt trọng tâm vào việc rèn luyện khả năng “phát hiện vấn đề”, rèn luyện TDST và nhất là tư duy biện chứng thông qua lao động tìm tòi “cái mới”.
Ông khẳng định: muốn sáng tạo toán học, rõ ràng là phải vừa giỏi phân tích, vừa giỏi tổng hợp. Phân tích và tổng hợp đan xen vào nhau, cái này tạo điều kiện cho cái kia [33]. 7 Tác giả Phan Dũng coi: “Quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định” và “Tư duy sáng tạo” là tương đương. Bởi vì, dù người giải quyết vấn đề theo cách nào thì đều phải tự mình suy nghĩ để đi từ “không biết cách” đến “biết cách”, nghĩa là quá trình suy nghĩ này tạo ra tính mới.
Tính mới đó đem lại ích lợi là đạt được mục đích của người đề ra. Như vậy suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định chính là TDST. [29] Ngoài ra còn có các nghiên cứu khác như: “Phát triển tư duy thông qua dạy học môn toán ở trường phổ thông“; “Giáo trình đổi mới phương pháp dạy học môn toán ở trường trung học sơ sở nhằm hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cho HS“; “Phát triển một số yếu tố của TDST cho HS tiểu học”; “Phát triển TDST cho HS giỏi thông qua dạy học hệ phương trình ở trường THPT”; “Rèn luyện TDST cho sinh viên đại học ngành toán thông qua dạy học một số nội dung đa thức”,… với các góc độ tiếp cận đa dạng những kết quả nghiên cứu. Trong lĩnh vực giáo dục tiểu học, một số nghiên cứu gần đây đề cập đến việc rèn luyện và phát triển TDST cho HS.
Chẳng hạn như: “Rèn luyện trí thông minh qua môn toán và phát hiện bồi dưỡng HS năng khiếu toán ở cấp 1” của tác giả Phạm Văn Hoàn (1969); “Rèn luyện TDST cho HS tiểu học thông qua hoạt động giải toán hợp” của tác giả Trần Thị Thu Hà (2005); “Thực trạng mức độ TDST của HS lớp 4 qua học tập phân môn tập làm văn” của tác giả Bùi Thị Kim Trúc (2008); “Rèn luyện kỹ năng tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 5 qua dạy học giải các bài tập đại lượng và đo đại lượng” của tác giả Vũ Thị Lan Anh (2003); Một số biện pháp tổ chức dạy học yếu tố hình học lớp 4 theo hướng tiếp cận hoạt động” của tác giả Lê Thị Ngọc Diễm (2011); “Phát triển một số yếu tố của tư duy sáng tạo cho học sinh tiểu học” của tác giả Đỗ Ngọc Miên (2014). Thế kỷ 21, theo các dự báo là thế kỷ trí tuệ. Dưới cách nhìn hiện đại, sáng tạo là nguồn tài nguyên cơ bản của con người do đó giáo dục và rèn luyện tính sáng tạo sẽ càng ngày càng đóng vai trò quan trọng vì: "Mục đích giáo dục trẻ em không phải là thông tin về những giá trị của quá khứ, mà là sáng tạo những giá trị mới của tương lai". Một số vấn đề chung về tư duy 1.