Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 5 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.Các nghiên cứu về biến độc lập – Yếu tố ảnh hƣởng đến học tập 1. Các nghiên cứu trên thế giới Carrol.Jzard (1992) đã trình bày ảnh hưởng chi phối của cảm xúc với ý thức, mức độ phát triển cao của tính tích cực, mà ở đó tâm lí quan trọng của tính tích cực của con người biểu hiện từ mức độ thấp là “tính tò mò” và mức độ cao là “khao khát nghiên cứu”, khao khát khám phá cũng như tính tự chọn trong tri giác, chú ý. Tác giả Evans (1999) đã chia 5 nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả học tập (KQHT) của SV, gồm: đặc trưng nhân khẩu (tuổi, giới tính, ngôn ngữ, nền tảng văn hóa, loại trường, tình trạng kinh tế xã hội, tình trạng giáo dục xã hội, nơi ở…); đặc trưng tâm lý (sự chuẩn bị cho việc học, chiến lược cho học tập cam kết mục tiêu…); Kết quả học tập trước đây; Nhân tố xã hội; Nhân tố tổ chức.
Nghiên cứu của Checchi & ctg (2000) khảo sát các yếu tố có liên quan đến điểm trung bình của SV trong 5 trường đại học ở Italia, cho thấy: giới tính, tuổi, nơi cư trú, KQHT trung học, loại trường trung học và đặc điểm gia đình có mối quan hệ chặt chẽ với KQHT. Tuy nhiên mức độ tác động của các yếu tố này là khác nhau giữa các trường đại học. Tác giả Darling-Hammond (2000) bằng nghiên cứu định tính và định lượng cho thấy đầu tư cho các chính sách phát triển năng lực giảng viên có liên quan chặt chẽ tới sự tiến bộ của trò. Tác giả chỉ ra rằng trường học tạo ra sự khác biệt về sự tiến bộ của học sinh mà phần lớn sự khác biệt đó là do người thầy mang lại.
6 Một nghiên cứu khác tại Tây Ban Nha của Antonia Lozano Diaz (2003) đã chỉ ra ảnh hưởng của các nhân tố đến KQHT của học sinh đó là: trình độ học vấn của cha mẹ, giới tính, động lực học tập, mối quan hệ giữa các học sinh và với những người khác. Bằng phân tích hồi quy và kiểm định ANOVA, nghiên cứu kết luận: môi trường và động lực học tập có ảnh hưởng đến KQHT, còn trình độ học vấn của cha me ̣ thì không. Theo Muhammad Akram Aziz (2010), khi xem xét ảnh hưởng của của các yếu tố nhân khẩu (giới tính, nơi cư trú , quy mô và mức thu nhâ ̣p của gia đình) và năng lực của giáo viên (viê ̣c lâ ̣p kế hoa ̣ch , quá trình giảng dạy, viê ̣c quản lý lớp học , kinh nghiê ̣m da ̣y ho ̣c và viê ̣c đánh giá ho ̣c sinh ) đến KQHT của học sinh trung học đã khẳng định chúng đều có mố i liên hê ̣ đáng kể. Trong đó, quy mô gia đin ̀ h có mố i tương quan âm với kết quả học tập.
Các nghiên cứu ở Việt Nam Theo Nguyễn Phương Nga và Nguyễn Quý Thanh (2007) đã chứng minh các phẩm chất năng lực của thầy có ảnh hưởng tới KQHT của trò và khẳng định các yếu tố thuộc về giảng viên như: Khả năng dạy học nói chung và trí thông minh; Kiến thức chuyên ngành; Kiến thức về dạy và học; Kinh nghiệm của giảng viên; Bằng cấp; Các hành vi và thực hành của giảng viên có mối tương quan cao với KHQT của SV. Kế t quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng có mố i tương quan giữa năng lực tự học và KQHT trong mối liên hệ và ảnh hưởng của yế u tố người da ̣y. Nguyễn Thị Mai Trang, Nguyễn Đình Thọ, Mai Lê Thúy Vân (2008) nghiên cứu và khẳng địnhcó mối quan hệ chặt chẽ giữa các yếu tố động cơ học tập và năng lực giảng viên với KQHT. Theo Nguyễn Công Khanh (2008) đã tiế n hành trắc nghiệm phong cách học của SV.
Trong đó , nghiên cứu được thiết kế dựa trên quan niệm xem phong cách học tập của SV là một cấu trúc phức hợp đa mặt, đa thành tố tác 7 động KQHT của SV. Cấu trúc trắc nghiệm này gồm 5 thang đo ( Các chiến lược học- Các phương pháp dạy và học được ưa thích hơn - Khả năng học/năng lực học - Động lực thúc đẩy việc học - Tính kiên trì, quyết tâm đến cùng). Nghiên cứu đã khẳng định các yếu tố này đề u có ảnh hưởng mạnh đến KQHT. Trần Lan Anh (2008) đã nghiên cứu và chứng minh các yếu tố thuộc môi trường (gồm phương pháp, cách thức giảng dạy của GV; điều kiện cơ sở vật chất phục vụ học tập; vị trí ngồi trong lớp; đi làm thêm) và các yếu tố thuộc cá nhân (gồm mục đích học, lựa chọn ngành học, tính cách, điểm trung bình của học kỳ gần nhất) có ảnh hưởng đến tính tích cực học tập của SV.
Theo Trinh ̣ Quố c Lâ ̣p (2010), khi nghiên cứu đố i chứng về điể m trung bình năng lực tự học của SV ngành cử nhân Anh ngữ tại Trung tâm giáo dục thường xuyên năm thứ 3 khi áp du ̣ng phương pháp da ̣y ho ̣c điề u chin̉ h đã cho thấ y chỉ số này có tăng lên (M pre = 3.41), đã chứng tỏ tác dụng của phương pháp dạy học điều chỉnh là rất cao. Kết quả cho thấy sự hướng dẫn tự học, tự điều chỉnh đúng đắn của người thầy và SV có ảnh hưởng rất lớn đối với khả năng TH của người học. Võ Thị Tâm (2010) đã nghiên cứu và khẳ ng đinh ̣ có các ảnh hưởng của các yếu tố thuộc đặc điểm SV (bao gồm: động cơ học tập, cạnh tranh học tập, kiên định học tập, ấn tượng trường học, phương pháp học tập) đến KQHT của SV. Theo Nguyễn Thị Thùy Trang (2010) đã chứng minh có mối tương quan và khảo sát được mức độ ảnh hưởng giữa quan niệm và thói quen học tập với KQHT của SV, ngoài ra nghiên cứu cũng khẳng định cách dạy của giáo viên có ảnh hưởng lớn nhất đến quan niệm và thói quen học tập của SV.
Bế Thị Điệp (2012) đã khảo sát và phân tích 3 nhóm nhân tố chính như: nhóm nhân tố cá nhân học sinh , gia đình và nhà trường có tác động đến 8 KQHT của học sinh. Nghiên cứu đã khẳ ng đinh ̣ hầ u hế t các nhân tố thuô ̣c 3 nhóm nhân tố trên (Nghiệp vụ sư phạm của giáo viên, Bạn học cùng trường, Chính sách học bổng, Uy tín nhà trường , Khối lớp, Sự kích thích từ gia đình , Tính tích cực học tập, Tính kiên trì trong học tập, Mục đích học tập, Dân tộc) đều có tác động tích cực tới KQHT. Trong đó, chỉ có hai nhân tố: trình độ học vấn của bố me ̣ , tình yêu thương của gia đình là có tác đô ̣ng nghich ̣ đế n KQHT. Các nghiên cứu liên quan đến biến phụ thuộc – Hoạt động tự học 1.
Các nghiên cứu trên thế giới Theo Mark Taylor và Paul Kloosterman (2010) khi tổng kết từ chương trình nghiên cứu học tập suốt đời của liên minh Châu Âu, đã đưa ra khái niệm về năng lực tự học (NLTH) liên quan đến các kỹ năng như: biết ưu tiên việc học tập, biết lập kế hoạch và hiện thực hóa những gì đã học; có khả năng tự nhận thức và đánh giá; đưa ra và tiếp nhận phản hồi; coi tự học vừa là mục tiêu vừa là quá trình; tự tin tham gia học tập với người khác; có trách nhiệm với quá trình học. Theo Pukevičiūt (2009) coi năng lực tự học như siêu năng lực, được hình thành trên cơ sở 3 thành phần chính: kiến thức - kỹ năng và thái độ bao gồm các kỹ năng như : nhận thức về tầm quan trọng của tự học , Xác định nhu cầu và mục tiêu học tập , lựa chọn các chiến lược học tập phù hợp , lựa chọn phương pháp học tập , tự đánh giá kết quả học tập , phân tích siêu nhận thức. Quan điể m của Puk evičiūt về năng lực tự ho ̣c dựa trên quan điể m năng lực học tập tự điều chỉnh (self-regulated learning competancy). Geoffrey Petty (1988) đã phân tích về nhu cầu thực tế, tình cảm của người học, các cách học, các trường phái về học.
Trong đó, tác giả nhấn mạnh, dù theo trường phái nào, muốn nâng cao chất lượng dạy và học, cần 9 phải nghiên cứu, tìm hiểu về động cơ học tập. Ông cũng chỉ ra rằng nhu cầu có ảnh hưởng rất nhiều đến tính tích cực học tập. Robert Fisher (2003) đã trình bày khung hình cho một chính sách học tập tích cực của học sinh, nêu lên các cách thức học tập hiệu quả và một hệ thống bài tập để học sinh, SV bộc lộ, hình thành, phát triển các cách thức học tập đó. Theo tác giả, phương pháp học tập là quan trọng, bởi khi người học tìm cho mình phương pháp học tập đúng sẽ làm tăng niềm đam mê, tính tích cực học tập và đạt được nhiều thành công.
Các nghiên cứu ở Việt Nam GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn (1997) đã dày công nghiên cứu về tự học. Theo ông, “Tự học thường được hiểu là học với sách, không có thầy bên cạnh. Nhưng hiểu như vậy là hơi hẹp. Ngay cả khi có thầy bên cạnh, thì thầy cũng chỉ giảng giải, uốn nắn, chứ thầy đâu có học hộ trò.
Dạy, dù sao, cũng chỉ là ngoại lực tác động đến trò. Ngoại lực đó phải có sự cộng hưởng của nội lực cố gắng của học trò. Sự cố gắng này mới đúng là tự học”. Tác giả khẳng định tự học là “nội lực”, tác động của thầy là “ngoại lực” đối với sự phát triển của bản thân người học.
Kết hợp quá trình dạy và quá trình tự học là quá trình kết hợp giữa ngoại lực và nội lực cộng hưởng với nhau tạo ra chất lượng và hiệu quả cao. Nghiên cứu của Phạm Đình Khương (2006) chỉ ra cấu trúc của năng lực tự học toán của học sinh THPT gồm 3 năng lực thành phần : năng lực nhận thức toán học, năng lực tiến hành hoạt động tự học trong môn toán , năng lực quản lý hoạt động tự học. Trong mỗi năng lực thành phầ n này bao gồ m các khả năng và kỹ năng biể u hiê ̣n cho các đă ̣c trưng của mỗi năng lực cụ thể .