Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về động lực học tập và nghiên cứu có liên quan Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 5 Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 6 CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết về động lực, động lực học tập, sinh viên đại học chính quy 2.1 Động lực, động lực học tập Từ lâu động lực luôn được coi là một yếu tố then chốt giúp chúng ta có thể hoàn thành được mọi thứ một cách tốt nhất. Trong mọi việc, điều gì cũng cần tới động lực thì mới có thể dẫn tới một kết quả tốt đẹp. Đây là một từ đa chiều, nó mang chiều sâu về ý nghĩa và được đánh giá bởi nhiều tiêu chí khác nhau.
Đã có rất nhiều các nghiên cứu về “động lực” của con người. (2002) “Động lực” – Motivation có thể hiểu là cái khiến cho con người hành động theo cách họ muốn. Là sự bắt đầu, chỉ đạo, duy trì và ngưng lại hành động của bản thân. Động lực còn được định nghĩa là định hướng của một người để thực hiện một mục tiêu hoặc là nguyên nhân khiến một người lặp đi lặp lại một hành vi (Alizadeh, 2016).
Động lực phản ánh nhu cầu tâm lý xã hội, trong nhu cầu sinh học động lực là mong muốn, cảm giác cần có được của con người và nó sẽ tiếp thêm năng lượng cho các hành động để thực hiện một công việc nào đó. Xét về mặt tâm lý học, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng động lực là một quá trình nội tại, giúp thúc đẩy, định hướng và duy trì hành động liên tục (Pintrich, 2003). Tóm lại, chúng ta có thể hiểu rằng động lực là sự kết hợp giữa nỗ lực và mong muốn là nguyên nhân khiến ta hành động. Là nguồn sức mạnh giúp chúng ta trở nên cố gắng hơn, tích cực hơn khi hoàn thành một công việc hay nhiệm vụ nào đó.
Nó là sự khởi đầu cho một quá trình, dẫn dắt quá trình đó đi đến mục tiêu cuối cùng. Cũng có thể hiểu rằng động lực chính là chìa khóa thúc đẩy chúng ta hành động để thỏa mãn nhu cầu bản thân. Trong mọi lĩnh vực, động lực luôn đóng vai trò then chốt trong việc đưa ra quyết định hành động của con người. Thuật ngữ về động lực còn được sử dụng trong bối cảnh giáo dục, cụ thể là động lực học tập (ĐLHT).
Theo Lumsden (1994) định nghĩa động lực học tập là sự sẵn sàng của người học để tham gia vào quá trình 7 học tập. Động lực học tập là sự tham gia vào quá trình học tập của người học để đạt được các mục tiêu về học tập như điểm học tập xuất sắc, có nhiều cơ hội trong tương lai về nghề nghiệp của họ (Gottfried và cộng sự, 2001). Bomia et al. (1997) chỉ ra ĐLHT là sự khao khát, hào hứng, mong muốn, nhiệt huyết và có trách nhiệm trong quá trình học tập.
Bakar (2014) nói thêm rằng động lực học tập là sự lựa chọn của sinh viên về cách thức học tập, thời gian và nỗ lực mà họ dành cho việc học, sự kiên trì của họ trong các nhiệm vụ học tập. Nhìn chung, ĐLHT là sự phấn khích, ham muốn học hỏi, sẵn sang tham gia vào quá trình học tập như một sự tự nguyện để đạt được những mục tiêu bản thân mong muốn. Nó có thể là nhu cầu của cá nhân hoặc là một mục tiêu, sự thành công mà người đó muốn đạt được. ĐLHT là những yếu tố nhằm thúc đẩy sự tích cực, kích thích hứng thú học tập của người học để đạt được kết quả về kiến thức, phát triển bản thân và hướng tới mục đích học tập đã đề ra.
Ví dụ, một người có thể có động lực để học tập vì muốn tìm được một công việc tốt hoặc cơ hội thăng tiến nhanh hơn trong tương lai hoặc để có thêm nhiều kiến thức 2.2 Vai trò của động lực học tập đối với quá trình học tập Tạo ĐLHT cho sinh viên là vấn đề đang được các nhà giáo dục quan tâm và đây cũng là một thách thức lớn đối với giáo dục. Bởi ĐLHT sẽ là chìa khóa dẫn đến sự thành công hoặc thất bại sau này của sinh viên, nó ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả học tập và kiến thưc chuyên môn. Các nhà nghiên cứu và giáo dục rất quan tâm đến động lực học tập vì nó có mối liên hệ chặt chẽ với kết quả học tập của sinh viên. ĐLHT được nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra là thành phần quan trọng nhất của việc học (Maeher, 1984).
Dörnyei (2015) xem ĐLHT như một phần không thể thiếu trong quá trình học và nếu không có ĐLHT sẽ khiến người học thất bại ngay cả khi họ được trang bị đầy đủ những thứ cần thiết trước đó. Khả năng và động lực mạnh mẽ sẽ bù đắp cho những thiếu sót quan trọng. Đông lực chính là thứ kích hoạt chúng ta hành động để học. Nó giải thích cho những điều cơ bản như: lý do tại sao chúng ta muốn học, sức mạnh của mong muốn học hỏi, chúng ta là người như thế nào, nhiệm vụ và ước tính về những gì chúng ta được yêu cầu hoàn thành 8 (McDonough, 2007).
Khi một học sinh/ sinh viên có động lực học tập, họ sẽ cố gắng, nỗ lực học tập để lĩnh hội được những điều bổ ích. Ngược lại, nếu một học sinh không có động lực học tập, họ sẽ coi việc học như một gánh nặng, một nghĩa vụ phải làm nhưng không thực sự đam mê hay để tâm đến nó. Hadre et al,. (2007) lập luận rằng động lực là một trong những yếu tố quyết định mạnh mẽ nhất đối với sự thành công hay thất bại của sinh viên.
Trong lĩnh vực học tập việc thúc đẩy động lực của sinh viên để tham gia trong các hoạt động trong quá trình học tập là một phần của giáo viên nếu muốn có một kết quả chất lượng. Những sinh viên có động lực học tập cao, họ sẽ luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, vượt qua những khó khăn về nghịch cảnh và sẵn sang đương đầu với mọi thử thách (Bakar R, 2014). Ngoài ra, Donn (2000) cũng chỉ ra những sinh viên có trình độ cao thường có động lực học tập rất cao họ sẽ luôn chủ động tham gia lớp học, cần cù, tích cực trong học tập, không dễ thỏa mãn, đúng giờ và kỷ luật, luôn cố gắng học tập để đạt kết quả tốt nhất. Tóm lại, ĐLHT là một yếu tố vô cùng quan trọng, nó góp phần tạo sự thành công trong giáo dục và cuộc sống sau này không chỉ của sinh viên mà còn là cả một thế hệ của đất nước.
Nó giúp người học duy trì tiếp tục học tập, phát triển tiếp nạp thêm nhiều kiến thức và kỹ năng. Nhà trường và giảng viên cũng cần biết cách để tạo động lực và phát huy động lực học tập cho sinh viên, hay bản thân sinh viên cũng cần biết cách nâng cao động lực học tập để việc dạy và học trở nên hiệu quả hơn.3 Động lực bên trong và động lực bên ngoài Nghiên cứu sâu hơn vào động lực, cụ thể là động lực học tập, DEV (1997) đã nghiên cứu và chỉ ra động lực được chia ra thành động lực nội tại và động lực bên ngoài. Ryan & Deci, (2000) cũng chỉ rằng có 2 loại động lực chính là động lực bên ngoài và động lực nội tại. Động lực bên trong và bên ngoài là hai loại động lực chính mà sinh viên đại học cần có khi tham gia vào vào quá trình học tập để tạo ra kiến thức và kỹ năng.
Cả hai loại động lực có thể có sự tác động tới ĐLHT của sinh viên, tuy nhiên chúng không có tác động chính xác như nhau (Ormrod, 2008). Quá 9 trình học tập của sinh viên có thể bị tác động bởi động lực nội tại, cũng có thể bị tác động bởi động lực bên ngoài, hai loại động lực này sẽ bổ trợ cho nhau. Có thể một sinh viên họ chưa tìm thấy được động lực nội tại của bản thân nhưng chính những yếu tố thuộc động lực bên ngoài sẽ giúp họ thúc đẩy động lực nội tại của bản thân và ngược lại • Động lực nội tại (Intrinsic motivation) Động lực nội tại xuất phát từ bên trong mỗi cá nhân chủ thể, không bị tác động hay áp đặt từ các tác nhân khác. Định nghĩa về động lực nội tại là làm một cái gì đó vì lợi ích của chính nó'' chẳng hạn như khi một đứa trẻ chơi bóng chày, nó sẽ không chơi vì một lý do nào cả mà đơn giản đó là điều mà đứa trẻ ấy muốn làm ( Reiss, S.
Động lực nội tại diễn ra khi một ai đó cảm thấy kích thích, hứng thú, vui vẻ khi tham gia vào một nhiệm vụ hay hoạt động nào đó. Deci và Ryan (1985) cho rằng động lực nội tại bắt nguồn từ nhu cầu tâm lý bẩm sinh về năng lực và quyền tự quyết. Hai nhà nghiên cứu này đã chỉ ra con người chúng ta thường sẽ có ba nhu cầu tâm lý bẩm sinh: Sự cần thiết phải cảm thấy có thẩm quyền, Sự cần thiết phải tự chủ, Sự cần thiết phải liên quan. Và động lực nội tại xuất phát từ sự kết hợp của ba yếu tố này.
Vì thế, động lực nội tại liên quan tới các hành vi bắt nguồn từ nhận thức, ý chí, mong muốn của chủ thể. Động lực nội tại đề cập đến việc thực hiện một hoạt động cho chính nó, và người thực hiện sẽ cảm nhận được niềm vui, sự hài lòng tham gia thực hiện hành động đó (Deci, 1975). Động lực học tập nội tại mang một vai trò quan trọng trong việc học tập, nó đóng góp vào việc tạo ra thành tích, năng lực học tập của sinh viên. Chẳng hạn như khi một sinh viên họ cảm thấy thích thú và hào hứng khi làm các nhiệm vụ được giao trong quá trình học thì đó xuất phát từ động lực nội tại của chính họ.
Sinh viên có động lực nội tại sẽ tự nguyện tham gia vào các nhiệm vụ học tập mà không cần trải qua áp lực bên ngoài hoặc bên trong và không mong đợi phần thưởng hoặc sự trợ giúp từ người khác. Một sinh viên có động lực nội tại sẽ tăng sự hứng thú khi học, tham gia tích cực vào bài giảng, liên hệ các kiến thức tiếp thu được lại với nhau và ứng dụng nó với nhiều khía cạnh trong cuộc 10 sống.