CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Dạy học kết hợp Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, nơi mà sự tích hợp giữa phương pháp giảng dạy truyền thống và công nghệ trở nên cấp thiết, "Blended learning " đã xuất hiện như một giải pháp hợp lý. Theo Moskal và cộng sự (2013) DHKH được hiểu dưới dạng sự tích hợp giữa các phương pháp giảng dạy trực diện truyền thống và các hoạt động học tập trực tuyến.
Định nghĩa này không chỉ đơn thuần là việc cộng dồn hai hình thức giáo dục, mà chính là sự phối hợp linh hoạt giữa chúng, với mục tiêu tận dụng tối đa ưu điểm của cả hai hình thức giáo dục để nâng cao chất lượng giảng dạy. Davis và Fill (2007) nhấn mạnh rằng DHKH không chỉ là sự giao thoa giữa giảng dạy trực diện và trực tuyến, mà còn phải được hỗ trợ bởi các nền tảng công nghệ thông tin, nhấn mạnh sự quyết định của việc tích hợp công nghệ trong giáo dục. Một quan điểm tương tự được phản ánh qua nghiên cứu của Garison và Kanuka (2004) và Graham (2018), khi họ khẳng định rằng nền tảng công nghệ thông tin đóng một vai trò không thể thiếu trong việc tạo nên một chương trình DHKH hiệu quả. Xét về toàn cảnh, Alvarez (2020) mở rộng khái niệm này bằng cách định nghĩa DHKH là "sự tích hợp của các phương tiện truyền thông trong đào tạo".
Như vậy, nó không chỉ giới hạn ở việc tích hợp giữa giảng dạy trực tiếp và trực tuyến, DHKH còn thể hiện sự liên kết mật thiết giữa các phương tiện truyền thông và nền tảng công nghệ, đặt trong một bối cảnh giáo dục phức tạp và đa dạng (Alvarez, 2020). Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, DHKH biến đổi sâu rộng cách thức giảng dạy và học tập, tạo ra một môi trường học tập thú vị, tương tác và đa dạng). Với việc được hỗ trợ bởi công nghệ, người dạy có khả năng tạo ra các bài giảng sinh động, kích thích sự tò mò và sự tham gia tích cực của học viên. Đồng thời, người học cũng có cơ hội trải nghiệm một mô hình học tập linh hoạt, tự chủ và cá nhân hóa hơn.
Davis và Fill (2007) nhấn mạnh sự thay đổi trong trải nghiệm học tập khi tích hợp các nền tảng CNTT. Họ cho rằng, sự hỗ trợ từ công nghệ không chỉ giúp tối ưu hóa quá trình giảng dạy, mà còn giúp người học trở nên chủ động hơn, tự do khám phá và tương tác với nội dung học tập. Điều này, theo họ, đã đẩy lùi ranh giới truyền thống giữa giảng viên và học viên, tạo điều kiện cho sự tương tác hai chiều và sự hợp tác giữa hai 8 bên. Carbonell và cộng sự (2013) cũng nhấn mạnh sự thay đổi trải nghiệm của người dạy trong môi trường DHKH.
Nghiên cứu cho rằng, người dạy không chỉ đóng vai trò truyền đạt kiến thức, mà còn trở thành người hướng dẫn, điều chỉnh và tương tác với học viên trong một môi trường học tập đa dạng và động. Tổng quan cho thấy, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về quan điểm DHKH nhưng tựu chung lại thì nội hàm của hình thức DHKH được thể hiện qua 4 khía cạnh chính: (1) Tích hợp những phương pháp giảng dạy trực diện truyền thống và các hoạt động học tập trực tuyến; (2) Có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin; (3) Thay đổi trải nghiệm của người dạy và người học; (4) Sự tích hợp của các phương tiện truyền thông trong đào tạo. Quan điểm này sẽ được sử dụng xuyên suốt trong luận án của Nghiên cứu sinh. Ma trận tổng hợp các nghiên cứu về khái niệm DHKH Nội hàm khái niệm DHKH Tích hợp những Sự tích hợp phương pháp giảng Có sự hỗ Thay đổi trải của các TT Tác giả dạy trực diện truyền trợ của nghiệm của phương tiện thống và các hoạt công nghệ người dạy và truyền thông động học tập trực thông tin người học trong đào tạo tuyến Garison and 1 x x Kanuka (2004) 2 Garison (2004) x x 3 Oliver (2005) x Davis và Fill 4 x x x (2007) 5 Bonk (2012) x x 6 Carbonell (2013) x x Lai và cộng sự 7 x (2016) 8 Alvarez (2020) x x 9 Moskal (2013) x 10 Graham (2009) x x x Nguồn: Tác giả tổng hợp, 2022 Một cách cụ thể, nghiên cứu của Carman (2005) đã chỉ ra 5 yếu tố quan trọng trong một tiến trình học tập kết hợp đó là Hoạt động trực tiếp (Live events), Tự học (Self-Paced Learning), Hợp tác (Collaboration), Đánh giá (Assessment), công cụ hỗ trợ 9 (Support Materials).
Hoạt động trực tiếp là quá trình dạy học diễn ra cùng một thời điểm, tất cả sinh viên cùng tham gia. Hoạt động này không chỉ là lớp học truyền thống ở trên lớp mà có thể là trong một không gian ảo như Zoom, Teams. Như vậy, hình thức tổ chức trực tuyến hay trực tiếp không phải vấn đề cốt lõi của học tập kết hợp, mà chỉ là phương tiện để hoạt động diễn ra hiệu quả hơn. Tự học đóng vai trò quan trọng tạo nên sự khác biệt giữa học tập kết hợp và học tập truyền thống.
Tự học bao gồm cả quá trình học tập trên lớp. Khi người học tham gia tương tác trực tiếp với giảng viên, bạn học cũng là quá trình người học tự lĩnh hội tri thức qua hướng dẫn chi tiết. Ở mức độ cao hơn, người học tự học thông qua những nhiệm vụ, yêu cầu, tài liệu của giảng viên… Những định hướng này sẽ giúp cho quá trình tích lũy tri thức của người học diễn ra hiệu quả hơn so với người học tự tìm hiểu không hướng dẫn. Carman (2005) cũng chỉ ra rằng việc chuẩn bị học liệu chi tiết cho các nhiệm vụ đặc biệt là các học liệu số như video, hình ảnh, âm thanh… sẽ giúp kết quả quá trình tự học tốt hơn là các học liệu chữ thông thường.
Đối với hoạt động đánh giá, mặc dù đã có sự thay đổi trong quan điểm về dạy và học, nhưng sự thay đổi song song về mặt kiểm tra đánh giá và phản hồi vẫn diễn ra chậm hơn. Trong mô hình hoạt động đánh giá cần bao phủ được cả giai đoạn học tập trên lớp và tự học, như vậy hoạt động đánh giá quá trình phù hợp hơn khi áp dụng học tập kết hợp. Đánh giá quá trình là hoạt động thu thập và cung cấp minh chứng liên tục cho người học nhằm cải tiến hoạt động dạy và học. Môi trường học tập kết hợp mang đến cơ hội giao tiếp và tương tác hiệu quả cho các đối tượng tham gia.
Hợp tác ở đây không chỉ là sự hợp tác trong các nhóm sinh viên mà còn là quá trình hợp tác, giao tiếp giữa giảng viên và sinh viên, sinh viên với công cụ hỗ trợ, học liệu. Quá trình này có thể diễn ra mọi lúc, mọi nơi. Sinh viên – Giảng viên giao tiếp học tập với sự hỗ trợ của các sản phẩm công nghệ tạo thành không gian học tập lớn. So với DHKH truyền thống, việc triển khai các công cụ công nghệ trong học tập kết hợp thúc đẩy tương tác xã hội giữa sinh viên và cũng như làm tăng tính gắn kết giữa người học với các hoạt động trong lớp.
Horn và cộng sự (2021) thực hiện nghiên cứu các mô hình dạy học học tập kết hợp. Theo đó các DHKH bao gồm các hình thức: Flex Classroom: Sinh viên đến lớp học, được giao 1 danh sách các nhiệm vụ cụ thể. Tùy vào năng lực, mỗi cá nhân sẽ có nhiệm vụ khác biệt dưới sự điều phối của giảng viên thông qua kiểm soát dữ liệu, đánh giá phản hồi. Các sinh viên cũng có thể giúp đỡ lẫn nhau.
Mọi hoạt động đều diễn ra trên máy tính cá nhân và giao tiếp thông qua Internet; Station Rotation: Lớp học được 10 chia làm các nhóm nhỏ. Mỗi nhóm thực hiện một nhiệm vụ cụ thể phục vụ quá trình giải quyết vấn đề chung. Ví dụ: nhóm 1 tìm kiếm tài liệu trên máy tính, nhóm 2 thảo luận để tìm giải pháp; Lab rotation: Trong 50 phút của một lớp học, sinh viên dành ra 20 phút đầu để học online các khái niệm, tìm hiểu trước về bài học. 30 phút còn lại giảng viên sẽ lên lớp giảng sâu hơn và đưa ra những kiến thức áp dụng cho vấn đề; Flipped Classroom-Lớp học đảo ngược: Sinh viên chuẩn bị, nghiên cứu, học nhóm online, hoàn thành nhiệm vụ ở nhà với các tài liệu, nhiệm vụ giảng viên cung cấp và giảng viên kiểm soát quá trình này.
Giờ học trên lớp giảng viên và sinh viên sẽ trao đổi sâu hơn và thảo luận trên lớp học. Trong các mô hình này, đều đảm bảo 5 yếu tố của học tập kết hợp. Tuy nhiên, nghiên cứu nhận thấy mô hình lớp học đảo ngược có nhiều ưu điểm hơn trong việc sinh viên chủ động địa điểm, thời gian trong quá trình tự học nhưng vẫn đảm bảo quá trình giao tiếp, liên lạc với giảng viên, cũng như hoạt động nhóm thông qua internet. Khi đã có sự hỗ trợ của công nghệ thì sinh viên không cần cố định thời gian đó trên lớp học truyền thống.
Mặt khác, mô hình giúp sinh viên tự để đạt được kiến thức ở mức độ nhận thức thấp, ở mức độ nhận thức cao với các vấn đề phát sinh, sinh viên được trao đổi với giảng viên. Điều này hợp lý hơn rất nhiều so với lớp học truyền thống. Tổng quan các công trình nghiên cứu về DHKH cho thấy phần lớn các công trình nghiên cứu đều tiếp cận hình thức DHKH với 5 thành phần theo nghiên cứu của Carman (2005) bao gồm: Hoạt động trực tiếp (Live events), Tự học (Self-Paced Learning); Hợp tác (Collaboration); Đánh giá (Assessment); Công cụ hỗ trợ (Support Materials). Các DHKH như Flex Classroom; Station Rotation; Lab rotation; Flipped Classroom đều đảm bảo 5 yếu tố của học tập kết hợp.
Đây là cơ sở lý thuyết quan trọng được tác giả kế thừa trong quá trình phát triển và xây dựng mô hình nghiên cứu của Luận án. Sự hài lòng của sinh viên Ban đầu, sự hài lòng chủ yếu được dùng trong lĩnh vực kinh doanh và thường dùng để đo lường về sự hài lòng của khác hàng. Chính vì thế, những quan điểm về sự hài lòng của khách hàng có sự đa dạng và được tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau. Sự hài lòng của khách hàng có nguồn gốc từ những đánh giá của khách hàng sau khi sử dụng sản phẩm/dịch vụ (Hunt, 1991).
Theo Churchill và Surprenant (1982) thì sự hài lòng của khách hàng được cấu thành bởi 3 yếu tố bao gồm sự kì vọng (expectation), hiệu suất thỏa mãn nhu cầu của sản phẩm/dịch vụ (performance) và sự không thừa nhận (disconfirmation).