Chương 1 tác giả đã trình bày t ng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2 trình bày những nội dung cơ bản về các lý thuyết liên quan đến các khái niệm nền tảng của nghiên cứu này. Bao gồm các khái niệm như: dịch vụ, chất lượng dịch vụ, CL V đào tạo, sự hài lòng của khách hàng, mối quan hệ giữa các khái niệm này và các yếu tố ảnh hưởng đến CL V đào tạo. Từ đó, sẽ xây dựng mô hình nghiên cứu và đưa ra các giả thuyết nghiên cứu.1 ơ sở lý thuyết ề sự hài lòng đối ới chất lượng dịch ụ 2.1 Khái niệm sự hài lòng Có rất nhiều định nghĩa về sự hài lòng của khách hàng như: Theo Brown (1992), sự hài lòng của khách hàng là một trạng thái trong đó những gì khách hàng cần, muốn và mong đợi ở sản phẩm và gói dịch vụ được thỏa mãn hay vượt quá sự thỏa mãn, kết quả là có sự mua hàng lập lại, lòng trung thành và giá trị của lời truyền miệng một cách thích thú Theo Oliver (1997), hài lòng là phản ứng của người tiêu dùng khi được đáp ứng mong muốn.
Theo Tse và Wilto (1988), hài lòng là phản ứng của khách hàng về sự khác biệt giữa mong muốn và mức độ cảm nhận sau khi sử dụng sản phẩm hay dịch vụ. Theo Kotlor (2011), sự thỏa mãn - hài lòng của khách hàng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm/dịch vụ với những kỳ vọng của khách hàng. Mức độ hài lòng phụ thuộc vào sự khác biệt kết quả thu được từ sản phẩm với những kỳ vọng. + Nếu kết quả thực tế thấp hơn kỳ vọng thì khách hàng không hài lòng.
+ Nếu kết quả thực tế tương ứng với kỳ vọng thì khách hàng sẽ hài lòng. + Nếu kết quả thực tế cao hơn kỳ vọng thì khách hàng rất hài lòng. 7 Tóm lại, sự hài lòng của khách hàng đối với một dịch vụ là sự phản ứng của khách hàng đối với việc được dịch vụ đó đáp ứng những mong muốn của họ.2 Khái niệm dịch ụ Trong cuộc sống ngày nay chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao đ i được gọi chung là dịch vụ và ngược lại dịch vụ bao gồm rất nhiều các loại hình hoạt động và nghiệp vụ trao đ i trong các lĩnh vực và ở cấp độ khác nhau. Tuy nhiên, hiểu như thế nào là dịch vụ lại là vấn đề không đơn giản.
Do tính phức tạp đó nên hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ. Mỗi khái niệm đều có cơ sở khoa học nhằm giải quyết mục tiêu, nhiệm vụ nhất định trong thực tế. Theo Kotler & Armstrong (1996) dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa nhà cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đ i quyền sở hữu. Theo Zeithaml & Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.
Theo Từ điển Tiếng Việt (2004): Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có t chức và được trả công. Philip Kotler 2 3 định nghĩa dịch vụ: “ ịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đ i, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất”. Nguy n Văn Thanh 2 8 cho rằng: “Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm b sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, n i trội hoá… mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn” Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc độ khác nhau nhưng nhìn chung thì dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó, nhằm làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.
8 Dịch vụ có một số đặc thù hay tính chất mà nhờ đó chúng ta phân biệt với các loại hàng hóa hữu hình khác. Thứ nhất, tính vô hình (intangibility): Sản phẩm của dịch vụ là sự thực thi, khách hàng không thể thấy, nếm, sờ, ngửi…trước khi mua, đặc điểm này của dịch vụ gây rất nhiều khó khăn cho việc quản lý hoạt động sản xuất cung cấp dịch vụ. Thứ hai, tính không thể tách rời (inseparability): Sản phẩm dịch vụ gắn liền với hoạt động sản xuất và phân phối chúng, quá trình cung ứng dịch vụ cũng là tiêu thụ dịch vụ. Do vậy, không thể dấu được các sai lỗi của dịch vụ.
Thứ ba, t nh không đồng nhất (heterogeneity): Dịch vụ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khó kiểm soát. Trong hoạt động cung ứng, các nhân viên cung cấp dịch vụ không thể tạo ra được dịch vụ như nhau trong khoảng thời gian hoàn toàn khác nhau. Nghĩa là gần như không thể cung ứng dịch vụ hoàn toàn giống nhau. Thứ tư, t nh không lưu giữ được (inventory): Dịch vụ không thể tồn kho, không thể vận chuyển từ khu vực này tới khu vực khác, không thể kiểm tra chất lượng trước khi cung ứng, người cung cấp chỉ còn cách làm đúng từ đầu và làm đúng mọi lúc.
Sản phẩm dịch vụ có một số đặc trưng ngoại lệ so với các sản phẩm hữu hình thuần túy như trên. ản xuất một sản phẩm dịch vụ có thể hoặc không thể yêu cầu sử dụng như hàng hóa hữu hình. Ngoài ra, đặc t nh đáng kể nhất đó là nó thường gây khó khăn cho khách hàng đánh giá dịch vụ tại thời điểm trước khi tiêu dùng, trong lúc tiêu dùng và sau khi tiêu dùng. Hơn nữa, do tính chất vô hình của dịch vụ, nên nhà cung cấp dịch vụ cũng đứng trước những khó khăn để hiểu như thế nào về sự cảm nhận của khách hàng và sự đánh giá chất lượng dịch vụ đó.3 Khái niệm chất lượng dịch ụ Theo Gronroos (1984) chất lượng dịch vụ là kết quả của quá trình đánh giá mà người tiêu dùng so sánh những gì họ mong đợi nhận được với những gì họ thực sự nhận được.
Theo Parasuraman & cộng sự (1985) chất lượng dịch vụ là mức độ khác biệt giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ và chất lượng dịch vụ được chi phối bởi ba đặc điểm n i bật của dịch vụ là tính vô hình, t nh không đồng nhất, tính không thể tách rời. Theo Cronin 9 & Taylor (1992) chất lượng dịch vụ là nhận thức (cảm nhận) của người tiêu dùng về kết quả của dịch vụ. Khái niệm chất lượng dịch vụ mà Gronroos và Parasurama và cộng sự đưa ra đều có hàm ý so sánh giữa sự nhận thức và sự mong đợi (kỳ vọng) của người tiêu dùng về kết quả của dịch vụ. Tuy nhiên khái niệm mong đợi (kỳ vọng) của người tiêu dùng mang một nghĩa mơ hồ gây khó khăn cho việc đo lường đánh giá thực tế.
Khái niệm chất lượng dịch vụ theo quan điểm của Cronin & Taylor tỏ ra thuận tiện cho việc đo lường chất lượng dịch vụ trong thực tế và đã được rất nhiều nhà nghiên cứu sử dụng như: Wathek ame 2 12 , alem. Như vậy, chất lượng dịch vụ là nhận thức (cảm nhận) của người tiêu dùng về kết quả của dịch vụ.2 Mối quan hệ giữa chất lượng dịch ụ đào t o à sự hài lòng của người học Trong lĩnh vực giáo dục, mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cũng được khẳng định qua nhiều nghiên cứu. Chua 2 [9] đã nghiên cứu đánh giá chất lượng đào tạo theo nhiều quan điểm/góc nhìn khác nhau: học sinh, phụ huynh, giáo viên và người sử dụng lao động. Kết quả cho thấy, trong hầu hết các thành phần của mô hình V U L đồng cảm, năng lực đáp ứng, tin cậy, phương tiện hữu hình, năng lực phục vụ), học sinh, phụ huynh và người sử dụng lao động đều kỳ vọng cao hơn những gì họ nhận được.
Riêng các giáo viên, sự khác biệt giữa cảm nhận và kỳ vọng xuất hiện ở hai thành phần gồm phương tiện hữu hình và năng lực phục vụ. Trong một nghiên cứu khác, Snipes, R. Thomson (1999) [10] tìm hiểu các nhân tố tác động đến chất lượng cảm nhận trong đào tạo của học sinh qua điều tra ý kiến học sinh trường có quy mô vừa và nhỏ tại 3 bang của Hoa Kỳ. Kết quả phân tích dữ liệu hồi đáp cho thấy từ 5 thành phần lý thuyết của SERVQUAL chỉ còn 3 thành phần đủ tin cậy và có giá trị phân biệt: (1) cảm thông; 2 năng lực đáp ứng và tin cậy; 3 phương tiện hữu hình môi trường 10 học tập, làm việc).
Sự cảm thông và quan tâm của giáo viên đến học sinh là yếu tố quan trọng nhất cho đánh giá chất lượng. o đó, muốn nâng cao sự hài lòng khách hàng, nhà cung cấp dịch vụ phải nâng cao chất lượng dịch vụ. Nói cách khác, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng có quan hệ đồng biến chặt chẽ với nhau, trong đó chất lượng dịch vụ là cái được tạo ra trước nó quyết định đến sự hài lòng của khách hàng. Như vậy, đa phần các nghiên cứu đã kết luận rằng chất lượng dịch vụ là tiền đề của sự hài lòng và là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng nói chung và chất lượng dịch vụ đào tạo ảnh hưởng đến sự hài lòng của học sinh nói riêng.
o đó, khi an giám hiệu nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo thì cũng góp phần tăng thêm sự hài lòng của học sinh.2 ổng quan các nghiên cứu t ước c liên quan Một số nhà nghiên cứu đã kiểm định thực nghiệm để so sánh em thang đo nào đo lường CLDV giáo dục tốt hơn.1 ghiên cứu nước ngoài 2.1 ghiên cứu của Firdaus Abdullah (2005, 2006) Abdullah (2005) sử dụng phương pháp định t nh để ác định các yếu tố quyết định CLDV bằng các nhóm thảo luận chuyên sâu. Lý thuyết được đánh giá bởi ba cuộc phỏng vấn nhóm chuyên sâu cung cấp cơ sở cho việc tạo ra các biến để đưa vào bảng câu hỏi nháp.